Menu

Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

Đăng nhập

    Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

    của trang_u - 4646 lượt xem
    Tạo chủ đề thảo luận
    • trang_u - 24/10/2017
      Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

      Vi bằng, hay văn bản công chứng, chứng thực được pháp luật thừa nhận như là chứng cứ, nguồn chứng cứ trong hoạt động xét xử hay các quan hệ pháp lý khác. Khi thực hiện, nhiều người đánh đồng giữa việc lập vi bằng và việc công chứng, chứng thực văn bản là một, xem chúng có giá trị chứng cứ như nhau. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào lập vi bằng cũng được thừa nhận giá trị pháp lý và không phải trong mọi trường hợp công chứng, chứng thực cũng đều có giá trị pháp lý.

      Cụ thể, các trường hợp công chứng, chứng thực sau đây không được thừa nhận giá trị pháp lý:

      - Công chứng bản dịch (chính) được cấp sai thẩm quyền hoặc không hợp lệ hoặc giả mạo.

      - Công chứng  giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch đã bị tẩy xoá, sửa chữa, thêm, bớt hoặc bị hư hỏng, cũ nát không thể xác định rõ nội dung;

      - Công chứng giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch thuộc bí mật nhà nước; giấy tờ, văn bản bị cấm phổ biến theo quy định của pháp luật.

      - Công chứng mà mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;

      - Công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch, bản dịch, chứng thực chữ ký có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi;

      - Tại thời điểm chứng thực, người yêu cầu chứng thực chữ ký không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

      - Người yêu cầu chứng thực chữ ký xuất trình CMND hoặc Hộ chiếu không còn giá trị sử dụng hoặc giả mạo.

      - Giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực ký vào có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân

      - Chứng thực chữ ký giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch, trừ các trường hợp chứng thực chữ ký trong Giấy ủy quyền đối với trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác.

      - Chứng thực bản sao mà bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ.

      - Chứng thực bản sao mà bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung.

      - Chứng thực bản sao mà bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp.

      - Chứng thực bản sao mà bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân.

      - Chứng thực bản sao mà bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị định này.

      - Chứng thực bản sao mà giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

      Căn cứ pháp lý: Luật công chứng 2014Nghị định 23/2015/NĐ-CP.

      Và sau đây là những trường hợp không được lập vi bằng, nghĩa là trong trường hợp này, nếu lập vi bằng sẽ không được thừa nhận giá trị pháp lý, bị xem là vi phạm pháp luật vi bằng:

      - Các trường hợp quy định Thừa phát lại không được làm.

      + Tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của mình, trừ trường hợp pháp luật cho phép; sử dụng thông tin về hoạt động thừa phát lại để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

      + Đòi hỏi bất kỳ khoản lợi ích vật chất nào khác ngoài chi phí đã được ghi nhận trong hợp đồng.

      + Tư vấn cho cá nhân, tổ chức dẫn đến thực hiện các hành vi trái pháp luật.

      + Không kiêm nhiệm hành nghề công chứng, luật sư, đấu giá tài sản, quản tài viên và những công việc thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.

      + Ép buộc người khác sử dụng dịch vụ của mình; cấu kết, thông đồng với người yêu cầu và những người có liên quan để tạo lập hồ sơ giả tạo hoặc hành vi gian dối khác.

      + Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế cho mình hoặc cho Văn phòng Thừa phát lại của mình trong việc hành nghề thừa phát lại.

      + Trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, thừa phát lại không được nhận làm những việc liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người là người thân thích của mình, bao gồm: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của thừa phát lại, của vợ hoặc chồng của thừa phát lại; cháu ruột mà thừa phát lại là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.

      + Các công việc bị cấm khác theo quy định của pháp luật.

      - Các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng gồm: Lập vi bằng xâm phạm mục tiêu về an ninh, quốc phòng; làm lộ bí mật nhà nước, phát tán tin tức, tài liệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước; vi phạm quy định ra, vào, đi lại trong khu vực cấm, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn của công trình quốc phòng và khu quân sự; vi phạm quy định về bảo vệ bí mật, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.

      - Các trường hợp vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật dân sự, trái đạo đức xã hội.

      - Các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp theo quy định của pháp luật về chứng thực gồm: Lập vi bằng để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản; tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao từ bản chính, xác nhận hợp đồng, giao dịch.

      - Lập vi bằng sự kiện, hành vi mà thừa phát lại biết rõ nhằm thực hiện các giao dịch trái pháp luật của người yêu cầu lập vi bằng, trừ trường hợp sự kiện, hành vi trái pháp luật do người khác thực hiện ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu lập vi bằng.

      - Lập vi bằng sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ, trừ trường hợp sự kiện, hành vi đó rõ ràng trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người yêu cầu lập vi bằng.

      - Sự kiện, hành vi không do thừa phát lại trực tiếp chứng kiến.

      - Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

      Căn cứ pháp lý: Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động thừa phát lại

      Như vậy, loại trừ các trường hợp nêu trên thì được phép công chứng, chứng thực và lập vi bằng.

      Có trường hợp được phép công chứng, chứng thực, nhưng không được lập vi bằng đó là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản; tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao từ bản chính, xác nhận hợp đồng, giao dịch.

      Các bạn lưu ý vấn đề này nhé!

      nh3.newbieg96@gmail.com, ninh2407, thanhtamlkt, và 1 người nữa cảm ơn trang_uvì bài viết hữu ích
    • 15481

    7 phản hồi

    • danghaa_ - 09/11/2017
      Re:Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

      hiểu nôm na vi bằng là việc ghi nhận các sự kiện, hành vi khách quan theo yêu cầu của các chủ thể và có thể làm thành chứng cứ còn văn bản công chứng nhằm chứng nhận và bảo đảm tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch. Như vậy, vi bằng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên còn văn bản công chứng trong một số trường hợp chưa cả quyền và nghĩa vụ của các bên

      Thuongtommy92, soltecvn cảm ơn danghaa_ vì bài viết hữu ích
    • phuonguyen2503 - 30/11/2017
      Re:Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

      Vi bằng chỉ có giá trị bằng chứng chứ không phải là một thủ tục để bảo đảm giá trị tài sản. Văn phòng thừa phát lại chỉ ghi nhận lại hành vi trao đổi, giao dịch tiền, giao nhận giấy tờ chứ không chứng thực quan hệ giao dịch mua bán tài sản. Vi bằng không có chức năng như công chứng, công chứng chứng thực việc giao dịch mua bán tài sản.

      soltecvn cảm ơn phuonguyen2503 vì bài viết hữu ích
    • Lilynguyen1608 - 27/12/2017
      Re:Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

      Vi bằng chỉ có giá trị bằng chứng chứ không phải là một thủ tục. Vi bằng chỉ ghi nhận lại hành vi trao đổi giao dịch giữa hai bên để đảm bảo tính hợp pháp của một hợp đồng giao dịch, vi bằng không có chức năng như bản chứng thực.

      Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và tình yêu không bao giờ kết thúc.

    • hoatuyetly152 - 28/02/2018
      Re:Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

      Đúng là cách dùng từ như hiện nay rất mập mờ làm người dân thường không phân biệt được các trường hợp. Hiểu nôm na chứng thực là chứng minh xác thực và đúng với bản chính, thường làm ở Ủy ban nhân dân (kết quả là bản sao y). Còn công chứng là việc công chứng viên đại diện nhà nước làm chứng cho giao dịch giữa hai bên, thế nên hai bên phải đem hồ sơ trực tiếp đến gặp công chứng viên (kết quả là phần xác nhận của công chứng viên với chữ ký và con dấu trong văn bản giao dịch của hai bên).

       

      TranTamDuc.1973 cảm ơn hoatuyetly152 vì bài viết hữu ích
    • vyvy2409 - 08/05/2018
      Re:Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

      Vi bằng chỉ có giá trị bằng chứng chứ không phải là một thủ tục. Việc lập vi bằng chỉ ghi nhận lại hành vi trao đổi, giao dịch tiền, giao nhận giấy tờ chứ không chứng thực quan hệ giao dịch mua bán tài sản. Vi bằng không có chức năng như công chứng, công chứng chứng thực việc giao dịch mua bán tài sản.

    • Thuongtommy92 - 08/05/2018
      Re:Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

      Theo như mình hiểu thì vi bằng là ghi nhận lại những sự kiện, hành vi khách quan theo yêu cầu của các chủ thể. Không thừa nhận hay đánh giá tính hợp pháp của các sự kiện, hành vi, quan hệ xã hội...chỉ ghi nhận những gì có thật, đã xảy ra trên thực tế còn công chứng là việc đảm bảo tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức của xã hội. 

    • Kimhang1302 - 24/06/2018
      Re:Cần phân biệt rõ khi nào lập vi bằng, khi nào công chứng, chứng thực?

      Theo mình thấy thì vi bằng chỉ có giá trị bằng chứng, và chứng cứ này chứng minh việc có mua bán, giao nhận tài sản không chứ cũng không phải là một thủ tục hành chính để đảm bảo giá trị tài sản. Vi bằng cũng không có chức năng như công chứng, chứng thực, công chứng nên theo mình đối với những trường hợp mua bán nhà đất qua vi bằng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro về mặt pháp lý, vì vậy nên cân nhắc kỹ trước khi mua nhà đất qua hình thức này

       

       

    Phản hồi

    Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT