Menu

CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

Đăng nhập

    CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

    của deptraikhoaito - 4477 lượt xem
    Tạo chủ đề thảo luận
    • deptraikhoaito - 19/12/2013
      CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

      Tôi cho anh Nguyễn Đình M vay tiền, hai bên thoả thuận không tính lãi. Tuy nhiên, anh Nguyễn Đình M đã không trả nợ cho tôi theo đúng thời hạn cam kết (tháng 4/2011). Do đó, tôi đã yêu cầu anh Nguyễn Đình M phải trả lãi cho tôi trong thời gian chậm trở nợ nhưng anh Nguyễn Đình M cho rằng, việc tôi cho anh Nguyễn Đình M vay tiền là không tính lãi, nên anh Nguyễn Đình M không phải trả lãi do chậm trả nợ cho tôi. Xin cho hỏi, tôi có quyền yêu cầu anh Nguyễn Đình M trả lãi do chậm trả nợ cho tôi hay không?

      • 5351

      10 phản hồi

      • Ls.NguyenHuyLong - 19/12/2013
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Chào bạn! Vấn đề của bạn thì Khoản 4 Điều 474 Bộ luật dân sự quy định như sau:

        4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

        Theo quy định trên khi bạn cho anh M vay tiền nhưng hai người không thỏa thuận về lãi chậm trả nên bạn không được yêu cầu anh M trả lãi đối với khoản tiền vay trên.

        Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, khi bạn yêu cầu anh M trả tiền nợ đã quá hạn anh M không trả bạn có thể nộp đơn khởi kiện anh M ra tòa án nhân dân huyện nơi anh M cư trú. đề nghị tòa án buộc anh M thực hiện nghĩa vụ với anh.

        Chúc anh sớm giải quyết được vấn đề của mình !

        Để được tư vấn chi tiết xin liên hệ:

        CÔNG TY LUẬT TNHH VILOB NAM LONG chuyên:

        - Tư vấn doanh nghiệp

        - Tư vấn sở hữu trí tuệ

        - Tư vấn đầu tư

        Website: www.nllaw.vn

        Địa chỉ : Tầng 11, Tòa B, Vinaconex Building, Số 57 Vũ Trọng Phụng, Thanh Xuân, Hà Nội

        Điện thoại: 02432 060 333

        Hotline: 0914 66 86 85 hoặc 0989.888.227

        Email: namlonglaw@gmail.com

        nguyenhai_lph, hadong92 cảm ơn Ls.NguyenHuyLong vì bài viết hữu ích
      • BachThanhDC - 20/12/2013
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Ls.NguyenHuyLong viết:

        Chào bạn! Vấn đề của bạn thì Khoản 4 Điều 474 Bộ luật dân sự quy định như sau:

        4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

        Theo quy định trên khi bạn cho anh M vay tiền nhưng hai người không thỏa thuận về lãi chậm trả nên bạn không được yêu cầu anh M trả lãi đối với khoản tiền vay trên.

        Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, khi bạn yêu cầu anh M trả tiền nợ đã quá hạn anh M không trả bạn có thể nộp đơn khởi kiện anh M ra tòa án nhân dân huyện nơi anh M cư trú. đề nghị tòa án buộc anh M thực hiện nghĩa vụ với anh.

        Chúc anh sớm giải quyết được vấn đề của mình !

        Chào Luật sư Huy Long!

        Đối với nợ chậm trả nói riêng và nghĩa vụ chậm trả là tiền nói chung thì không cần phải có sự thỏa thuận của hai bên, bên có nghĩa vụ vẫn phải chịu Luật sư à. Ngay trong điều luật mà Luật sư trích dẫn cũng đã thể hiện điều đó rồi. Bên cạnh đó thì BLDS còn có một quy định chung tại khoản 2 Điều 305 nữa.

        2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

        Như vậy thì trong trường hợp của bạn , bạn ấy có quyền yêu cầu người vay tiền là Nguyễn Đình M phải chịu lãi chậm trả kể từ tháng 5/2011.

        Trân trọng!

        Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!

        KhacDuy25 cảm ơn BachThanhDC vì bài viết hữu ích
      • anhvuhuybinh - 20/12/2013
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân TP Hà Nội về việc chia thừa kế giữa các đồng thừa kế bị Chánh án Tòa án nhân Tối cao kháng nghị, sau đó giám đốc thẩm tuyên hủy án sơ thẩm và giao cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Tuy nhiên, khi Tòa án sơ thẩm triệu tập các đương sự đến để lấy lời khai nhưng Nguyên đơn không đến. Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đình chỉ giải quyết vụ án. Vậy, bản án nào có hiệu lực pháp luật?

        nguyenhai_lph cảm ơn anhvuhuybinh vì bài viết hữu ích
      • hungmaiusa - 20/12/2013
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        anhvuhuybinh viết:

        Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân TP Hà Nội về việc chia thừa kế giữa các đồng thừa kế bị Chánh án Tòa án nhân Tối cao kháng nghị, sau đó giám đốc thẩm tuyên hủy án sơ thẩm và giao cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Tuy nhiên, khi Tòa án sơ thẩm triệu tập các đương sự đến để lấy lời khai nhưng Nguyên đơn không đến. Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đình chỉ giải quyết vụ án. Vậy, bản án nào có hiệu lực pháp luật?

        Chào bạn.

        Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã bị cấp giám đốc thẩm huỷ nên bản án này đương nhiên không có hiệu lực pháp luật.

        Toà án sơ thẩm xét xử lại đã đình chỉ vụ án nên chưa có bản án nào có hiệu lực được ban hành.

        Tóm lại, coi như chưa có vụ kiện.

        Trân trọng.

      • Ls.NguyenHuyLong - 20/12/2013
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Chào Luật sư BachThanhDC !

        Đối với vấn đề trên Bộ luật dân sự quy định tại cả phần quy định chung như Luật sư đã trích dẫn và quy định cụ thể tại Khoản 4 Điều 474 tôi đã trích dẫn.

        Tại Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự quy định: "Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác"

        Thưa Luật sư, cái quy định khác trong Khoản 2 Điều 305 chính là cái quy định cụ thể mà tôi đã trích dẫn tại Khoản 4 Điều 474 Bộ luật dân sự, tôi xin trích dẫn lại: "Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận." Quy định này được hiểu như sau: các bên vay không có lãi mà đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, trong trường hợp các bên có thỏa thuận, thì theo thỏa thuận. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần và không trái với quy định chung tại Khoản 2 Điều 305. Như vậy, trong trường hợp, hai bên vay đã thỏa thuận rất rõ là khoản vay này không có lãi. do đó không áp dụng việc trả lãi đối với khoản vay trên khi trả chậm.

        Thưa Luật sư, Pháp luật quy định về vấn đề này chưa được rõ ràng, cho nên mỗi người có các hiểu quy định trên một cách khác nhau. Đây là điểm hạn chế của quy định trên. Tôi xin trích dẫn một bài báo phản ánh vấn đề này, mời Luật sư tham khảo: http://phapluattp.vn/20110608104325256p0c1063/huong-dan-choi-nhau-tham-phan-lung-tung.htm  

        Chúc Luật sư mạnh khỏe, cảm ơn Luật sư về góp ý trên !

        Để được tư vấn chi tiết xin liên hệ:

        CÔNG TY LUẬT TNHH VILOB NAM LONG chuyên:

        - Tư vấn doanh nghiệp

        - Tư vấn sở hữu trí tuệ

        - Tư vấn đầu tư

        Website: www.nllaw.vn

        Địa chỉ : Tầng 11, Tòa B, Vinaconex Building, Số 57 Vũ Trọng Phụng, Thanh Xuân, Hà Nội

        Điện thoại: 02432 060 333

        Hotline: 0914 66 86 85 hoặc 0989.888.227

        Email: namlonglaw@gmail.com

        BachThanhDC, nguyenhai_lph, hadong92 cảm ơn Ls.NguyenHuyLong vì bài viết hữu ích
      • newvisionlaw2 - 20/12/2013
        Re: CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Chào bạn:

        Mình trả lời câu bạn chủ topic như sau:

        Tại khoản 4, 5 của Điều 474 - Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau: “4.Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận. 5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

        Căn cứ vào các quy định trên, nếu giữa bạn và anh Nguyễn Đình M có thoả thuận về việc anh Nguyễn Đình M phải trả lãi khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì mặc dù, việc bạn cho anh Nguyễn Đình M vay tiền là không tính lãi nhưng bạn vẫn có quyền yêu cầu anh Nguyễn Đình M phải trả lãi cho bạn đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ.

        Trong trường hợp, giữa bạn và anh Nguyễn Đình M không có thoả thuận về việc anh Nguyễn Đình M phải trả lãi khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì bạn không có quyền yêu cầu anh Nguyễn Đình M phải trả lãi cho bạn trong thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

      • hungmaiusa - 20/12/2013
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Chào mọi người !

        Theo luật dân sự :

        Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

        4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

        Như vậy thì điều luật đã minh thị rõ : vay không có lãi, bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả nếu có thoả thuận; suy ra, nếu không thoã thuận thì không phải trả lãi chậm trả.

        Vì lý do trên luật sư Ls.NguyenHuyLong và bạn newvisionlaw2   cho là người vay không phải trả lãi vay, theo tôi là hợp lý. 

        Trái lại bạn BachThanhDC lại căn cứ vào :

        Điều 305. Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

        1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

        2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

        Nên khẳng định là " bạn ấy có quyền yêu cầu người vay tiền là Nguyễn Đình M phải chịu lãi chậm trả kể từ tháng 5/2011.",theo tôi là hợp lý.

        Tuy nhiên, Tôi ủng hộ theo ý kiến của bạn BachThanhDC vì các lý do :

        - Tuân thủ nguyên tắc của luật dân sự 

        Điều 7. Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự

        Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nếu không tự nguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật.

        Tôi không hình dung được xã hội sẽ như thế nào nếu người được cho vay không lãi, khi đến hạn trã, không chịu trả và được pháp luật bảo vệ (không phải chịu lãi thì càng kéo dài càng tốt), truyền thống tốt đẹp "lá lành, đùm lá rách" sẽ mai một, không ai giúp đở ai về mặt tiền bạc. Do đó tôi không đồng tình với cách hiểu của bạn Ls.NguyenHuyLong và bạn newvisionlaw2 .

        -Thực tế cuộc sống và riêng câu hỏi của chủ TOPIC là "tôi có quyền yêu cầu anh Nguyễn Đình M trả lãi do chậm trả nợ cho tôi hay không?"

        Câu trả lời là được vì theo điều 305, khoản 2 thì người cho vay có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại và nếu thực sự họ phải vay tiền (đúng ra không phải vay nếu đòi được tiền) thì tiền lãi chính là thiệt hại.

        Trân trọng.

        BachThanhDC cảm ơn hungmaiusa vì bài viết hữu ích
      • anhvuhuybinh - 25/12/2013
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Bạn tôi có một thửa đất đang mang tên chính chủ của 2 vợ chồng. Năm 2010 có người đến bỏi mua. Sau khi 2 bên thống nhất giá cả mua bán, khách mua đặt cọc một khoản tiền tương đương 50% giá trị mua bán. Giấy đặt cọc do 2 bên ký và có người đi cùng làm chứng, khong ghi rõ thời hạn đặt cọc. Tuy nhiên, từ đó đến nay đã 3 năm nhưng người mua không quay trở lại. Bạn tôi không có bất cứ thông tin gì để liên hệ với người đã đặt cọc mua. Vậy, hiện tại bạn tôi có thể được phép bán tài sản đó không? Thủ tục pháp lý phải làm những gì? mong Luật sư tư vấn giùm.

        Cám ơn Luật sư nhiều!

      • BachThanhDC - 25/12/2013
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Chào Luật sư Ls.NguyenHuyLong!

        Cảm ơn Luật sư đã trao đổi. Tuy nhiên tôi vẫn không đồng ý với quan điểm của Luật sư.

        Khi đọc bài báo Hướng dẫn “chỏi” nhau, thẩm phán lúng túng mà Luật sư dẫn link, tôi khá ngạc nhiên vì không hiểu tại sao TAND TPHCM lại hướng dẫn như vậy để rồi dẫn đến việc cãi nhau về một vấn đề đã có văn bản hướng dẫn cụ thể từ khi còn áp dụng BLDS 1996. Đặc biệt là trong bài báo có trích dẫn ý kiến của một vị Thẩm phán Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao  có câu: "Vì thế theo tôi cách xử của tòa sơ thẩm là hợp lý". Trả lời thế này chứng tỏ vị Thẩm phán này không biết hoặc không nhớ rằng chính ngành mình đã từng ban hành một văn bản hướng dẫn nó.

        Văn bản đó chính là Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản. Tại điểm b mục 1 Phần I của thông tư này tuy không phải là hướng dẫn cụ thể việc có tính lãi chậm trả hay không đối với hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không có lãi, nhưng nội dung của nó thể hiện quan điểm của TATC là nếu chậm trả thì bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải chịu lãi chậm trả. 

        b) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền. Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

        Ví dụ: Tháng 2 năm 1996, anh A vay của chị B 2.000.000 đồng không có lãi, với thời hạn vay là một tháng. Đến ngày 20-3-1996 là hạn phải trả nợ, nhưng anh A không trả được cho chị B. Do đòi nhiều lần không được nên vào tháng 8-1996 chị B khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh A trả số tiền đã vay và phải trả tiền lãi cho bị B theo quy định của pháp luật.

        Trong vụ kiện này, toà án phải xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ của anh A là ngày 20-3-1996. Giả sử, ngày 20-11-1996 toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ kiện đòi nợ này và trong khoảng thời gian từ 20-3-1996 đến ngày 20-11-1996 giá gạo không tăng hoặc tuy có tăng nhưng ở dưới mức 20%, thì toà án không quy đổi số tiềnđó ra gạo như hướng dẫn ở điểm a, mà buộc anh A trả cho chị B số tiền nợ gốc là 2.000.000 đồng và khoản lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự. Khoản lãi anh A phải trả cho chị B được tính như sau:

        - Khoảng thời gian phải trả lãi tính từ ngày 20-3-1996 đến ngày 20-11-1996 là 8 tháng.

        - Mức lãi phải trả là mức lãi suất nợ quá hạn của loại vay trung hạn (vì thời gian phải trả lãi quá 6 tháng) tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Theo quy định tại Quyết định số 266-QĐ/NH1 ngày 27-9-1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì mức lãi suất đó là 2,025%/tháng (1,35% x 150% = 2,025%/tháng).

        - Tổng số tiền lãi mà anh A phải trả chị B trong thời gian 8 tháng là 324.000 đồng (2,025%/tháng x 8 tháng x 2.000.000 đồng = 324.000 đồng).

        Như vậy Toà án quyết định buộc anh A trả cho chị B số tiền là 2.324.000 đồng (2.000.000 đồng + 324.000 đồng = 2.324.000 đồng) và chịu án phí theo quy định của pháp luật.

        Ví dụ mà Thông tư 01/TTLT đưa ra ở trên đã chứng minh điều đó.

        Trân trọng!

        Hãy làm tất cả những gì trong phạm vi cho phép và khả năng có thể!

        Ls.NguyenHuyLong cảm ơn BachThanhDC vì bài viết hữu ích
      • huyennguyen2903 - 17/10/2020
        Re:CÓ PHẢI TRẢ LÃI DO QUÁ HẠN VAY KHI CÁC BÊN KHÔNG CÓ THỎA THUẬN?

        Tội cho vay thông qua công ty môi giới A, (là công ty môi giới giữa người vay và người cho vay, tôi trả phí môi giới cho công ty A) trong hợp đồng  không ghi về lãi trả quá hạn, có khoản phí trả quá hạn người vay trả cho công ty môi giới.

        Khoản vay đến hạn trả ngày 1/10 , người vay trả đúng hạn là ngày 1/10 thì công ty A trả khoản tiền gốc và lãi trong hạn cho tôi vào ngày 15/10. Tôi không nhận được tiền nào khác ngoài tiền gốc và tiền lãi. nếu người vay không trả tiên thì sau 90 ngày công ty mới thanh toán tiền bao hiểm cho tôi, họ cũng ko tra lãi quá hạn.

        Xin hỏi Công ty A làm như trên có dúng không? tôi có quyền yêu cầu công ty A hay người vay trả lãi quá hạn.

        ThanhLongLS cảm ơn huyennguyen2903 vì bài viết hữu ích
      Phản hồi

      Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT