Menu

Cơ sở sản xuất có được nhập khẩu hay không?

Đăng nhập

    Cơ sở sản xuất có được nhập khẩu hay không?

    của tammaynem - 15555 lượt xem
    • tammaynem - 08/09/2009
      Cơ sở sản xuất có được nhập khẩu hay không?

      Kính chào luật sư,em có vài vấn đề thắc mắc kính mong luật sư tư vấn cho em.Vốn là em là cơ sở sx(hình thức hộ kinh doanh cá thể),vì nhu cầu sx em có liên hệ được với 1 cty nước ngoài(cty này giao cho 1 cty khác gia công rồi tái xuất).Sau khi thống nhất giá cả và tiến tới ký kết hợp đồng mua bán thì bên em vướng phải vấn đề nhập khẩu,vậy luật sư cho em hỏi cơ sở sx thì có được nhập khẩu hay không,hay phải đăng ký xuất nhập khẩu gì khác nữa không.Kính mong sự tư vấn của luật sư.

    • 17673

    5 phản hồi

    • ls_lexuanhiep - 08/09/2009
      Re:Cơ sở sản xuất có được nhập khẩu hay không?

      Chào anh/chị,

      Căn cứ khoản 1, mục I, thông tư 04/2006/TT-BTM ngày 06/04/2006 của Bộ Thương mại hướng dẫn Nghị định số 12/2006/NĐ-CP quy định: 

      Thương nhân không có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (dưới đây gọi tắt là thương nhân) bao gồm:
      + Các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã.
      + Các hộ kinh doanh cá thể được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.

      Được xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, gia công, đại lý mua, bán hàng hóa theo quy định và trong phạm vi Nghị định số 12/2006/NĐ-CP không phụ thuộc vào ngành hàng, ngành nghề ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Hiện nay Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh đã được thay thế bằng Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2006).

      Đối chiếu với các quy định trên, trường hợp cá nhân kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh đúng theo quy định và không có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài thì trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, hộ kinh doanh cá thể được phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh.

      Do đó, anh/chị sẽ được làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa với tên Hộ kinh doanh cá thể.

      Trân trọng

       

    • mexanh - 18/09/2009
      Công ty cổ phần thay đổi cơ cấu vốn góp như thế nào?
      Công ty tôi là công ty cổ phần mới thành lập được 02 tháng. Vốn điều lệ là 3 tỉ đồng, cổ đông sáng lập đăng ký mua 100%. Bây giờ công ty muốn thay đổi cơ cấu vốn góp, chuyển 2 tỉ đồng thành cổ phần cháo bán tự do, cổ đông sáng lập chỉ đăng ký mua 1ti. Xin hỏi luật sư Công ty tôi làm như vậy có được không? Thủ tục cụ thể như thế nào?
    • ls_lexuanhiep - 18/09/2009
      Re:Công ty cổ phần thay đổi cơ cấu vốn góp như thế nào?

      Chào anh/chị,

      Theo Điều 84 của Luật doanh nghiệp thì các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán. Các cổ đông công ty anh chị đã đăng ký mua 100% vốn góp và được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nay các cổ đông muốn mua 1 tỉ thay vì 3 tỉ thì phải làm thủ tục tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Công ty anh chị đủ điều kiện. Công ty liên hệ Sở KHĐT để được hướng dẫn thủ tục hoặc truy cập vàp website:
      http://www.dpi.hochiminhcity.gov.vn/vie/news_detail.asp?period_id=1&cat_id=42&news_id=364

      Trân trọng.

    • mexanh - 25/09/2009
      Re: Cơ sở sản xuất có được nhập khẩu hay không?
      Cảm ơn Luật sư!
      Chúng tôi cũng đã tiến hành các thủ tục và nộp lên sở Kế hoạch và đầu tư nhưng được sở trả lời là: Các cổ đông đã cam kết mua phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Vậy trả lời của Sở có đúng không? Liệu có cách nào khac để công ty tôi có thể giảm số cổ phần mà cổ đông sáng lập đã đăng ký mua hay không?
      Xin chân thành cảm ơn luật sư rất nhiều!
    • ls_lexuanhiep - 25/09/2009
      Re:Re: Cơ sở sản xuất có được nhập khẩu hay không?

      Chào anh/chị,

      Tôi nêu ra các quy định để anh chị có thể tùy tình hình mà thực hiện:

      1/ Điều 80 – Luật doanh nghiệp có quy định về nghĩa vụ của cổ đông phổ thông là “thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”, “không được rút vốn bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần”.

      2/ Điều 84 – Luật doanh nghiệp có quy định “thì các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” và “phải thông báo tiến trình góp vốn cho cơ quan đăng ký kinh doanh.

      Tuy nhiên, Khoản 3 và 4 Điều 84 – Luật doanh nghiệp cũng quy định:

      - "Trường hợp có cổ đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì  số cổ phần chưa góp đủ đó của cổ đông sáng lập được xử lý theo một trong các cách sau đây:

      a)      Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số cổ phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty;

      b)      Một hoặc một số cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó;

      c)      Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Trong trường hợp này, cổ đông sáng lập chưa góp cổ phần theo đăng ký đương nhiên không còn là cổ đông của công ty.
      Khi số cổ phần đăng ký góp của các cổ đông sáng lập chưa được góp đủ thì các cổ đông sáng lập cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phần chưa góp đủ đó"

      - “Trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”

      3/ Điều 15 Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ có quy định:

      “Sau ba năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nếu số cổ phần được quyền chào bán quy định tại khoản 4 Điều 84 của Luật Doanh nghiệp không được bán hết thì công ty phải đăng ký điều chỉnh giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với số cổ phần đã phát hành”. Điều này có nghĩa là Công ty cổ phần có thể đăng ký để giảm vốn Điều lệ xuống bằng với số cổ phần mà Công ty đã phát hành sau 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

      ==> Với những quy định trên, công ty anh chị có thể cơ cấu lại vốn góp theo khoản 3 và khoản 4 Điều 84. Công ty anh chị không thể giảm vốn điều lệ trong thời hạn 3 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn 3 năm thì có thể giảm vốn điều lệ.

      Thân chào

    Phản hồi

    Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT