Menu

Dân sự hay hành chính?

Đăng nhập

    Dân sự hay hành chính?

    của minhquan1999 - 819 lượt xem
    Tạo chủ đề thảo luận
    • minhquan1999 - 07/03/2020
      Dân sự hay hành chính?

      Văn bản, hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực là đối tượng khởi kiện vụ án dân sự hay hành chính ?

      Tóm tắt nội dung vụ việc:

      Cụ Lê Văn C, sinh năm: 1919, chết ngày 13/05/1990. Vợ của cụ Lê Văn C là cụ Đỗ Thị Đ, sinh năm: 1921, chết ngày 21/6/2002. Khi chết cả cụ Lê Văn C và cụ Đỗ Thị Đ đều không để lại di chúc.

      Vợ chồng cụ Lê Văn C và Đỗ Thị Đ sinh được 07 người con cụ thể bao gồm: Lê Văn L, Lê Thị Th, Lê Văn Ngh, Lê Thị T, Lê Thị D, Lê Thị S và Lê Văn H.

      Di sản thừa kế của cụ Lê Văn C và cụ Đỗ Thị Đ chết không để lại di chúc là diện tích 800m2 đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà cấp xây dựng 4 có địa chỉ tại thôn Sông Hai, xã Núi Thành, huyện H, tỉnh L, đã được UBND huyện H cấp Giấy CNQSD đất đứng tên “hộ bà Đỗ Thị Đ” là chủ sử dụng từ năm năm 1999.

      Những người thừa kế hiện nay còn sống thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn C và bà Đỗ Thị Đ gồm có 07 người con cụ thể là: Lê Văn L, Lê Thị Th, Lê Văn Ngh, Lê Thị T, Lê Thị D, Lê Thị S và Lê Văn H.

      Vào ngày 08/08/2012, có 05 người con là Lê Văn L, Lê Thị Th, Lê Thị T, Lê Thị D, Lê Thị S đã cùng đến UBND xã Núi Thành để xác lập và chứng thực “Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế”. Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế do 05 người con lập có nội dung là “Tôi là người thừa kế theo pháp luật của mẹ tôi là Đỗ Thị Đ … Tài sản mà tôi được thừa kế là một phần diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1999 mang tên hộ bà Lê Thị Đ … Nay tôi tự nguyện từ chối tài sản nêu trên mà tôi được hưởng” (Trong nội dung của 05 văn bản này thì cả 05 người con chỉ nêu rõ là từ chối tài sản thừa kế của mẹ, không nhắc đến việc từ chối tài sản thừa kế của bố - TG).

      Có 02 người con là Lê Văn Ngh và Lê Văn H thì không có Văn bản từ chối.

      Ngày 07/9/2012, người con trai út là ông Lê Văn H đang làm ăn ở xa không có mặt ở địa phương nên đã lập Giấy ủy quyền gửi về cho người con trai cả là ông Lê Văn L được “Thay tôi ký kết các văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế tài sản”.

      Trên cơ sở 05 văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế của 05 người con và Giấy ủy quyền của người con trai út, ngày 14/8/2012, ông Lê Văn L và ông Lê Văn Ngh đã lập “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” để phân chia di sản, tài sản thừa kế với nội dung “Ông Lê Văn Ngh và ông Lê Văn H mỗi người được hưởng ½ (Một nửa) của tổng diện tích quyền sử dụng 800m2 đất đã được UBND huyện H cấp Giấy CNQSD đất năm 1999 đứng tên cụ Đỗ Thị Đ là chủ sử dụng”. Văn bản phân chia tài sản thừa kế này đã được Trưởng Phòng tư pháp huyện H ký chứng thực vào ngày 17/9/2012. Sau đó, ông Lê Văn Ngh đã tiến hành làm hồ sơ và đã được UBND huyện H cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, một Giấy đứng tên ông Lê Văn Ngh và 01 Giấy đứng tên ông Lê Văn H.

      Năm 2015, người con trai út là Lê Văn H quay về địa phương, ông H có gặp và hỏi ông Ngh và các anh chị về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế nào, ai đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải trả lại cho ông H cất giữ, nhưng ông Ngh nói là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị thất lạc mất. Sau đó ông H đã làm đơn gửi UBND xã và UBND huyện đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Đỗ Thị Đ. Quá trình xem xét giải quyết đơn của ông H về việc đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến cuối năm 2018 thì ông H biết được là vào tháng 9/2012 giữa ông L và ông Ngh đã lập Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế quyền sử dụng diện tích 800m2 đất đứng tên cụ Đ sang cho 02 người con là ông Ngh và ông H và đã được UBND huyện cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

      Sau khi biết được nội dung của Văn bản phân chia tài sản thừa kế được lập giữa ông Lê Văn L và ông Lê Văn Ngh về việc phân chia tài sản thừa kế đã được Trưởng Phòng tư pháp huyện H ký chứng thực vào ngày 17/9/2012, ông H cho rằng Nội dung Văn bản này là trái pháp luật và xâm phạm đến quyền lợi của ông H  nên ông H đã khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện H tuyên xử “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” được lập giữa ông Lê Văn L và ông Lê Văn Ngh về việc phân chia tài sản thừa kế đã được Trưởng Phòng tư pháp huyện H ký chứng thực vào ngày 17/9/2012, là văn bản vô hiệu.

      Sau khi tiếp nhận đơn và hồ sơ khởi kiện của ông Lê Văn H, có 02 quan điểm:

      Quan điểm thứ nhất: Tòa án nhân dân huyện H tiến hành thụ lý vụ án hành chính và giải quyết nội dung yêu cầu khởi kiện của ông H theo pháp luật Tố tụng hành chính.

      Quan điểm thứ hai: Tòa án nhân dân huyện H tiến hành thụ lý vụ án dân sự và giải quyết nội dung yêu cầu khởi kiện của ông H theo pháp luật Tố tụng dân sự.

      Tác giả nhận thấy rằng: Căn cứ nội dung vụ việc và nội dung yêu cầu khởi kiện, khi nhận Đơn khởi kiện thì Tòa án cần phải nghiên cứu kỹ nội dung yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện (Trong trường hợp xét thấy yêu cầu khởi kiện chưa cụ thể hoặc thấy cần thiết thì Tòa án cần phải mời Người khởi kiện đến làm việc để xác định rõ nội dung yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện cụ thể là như thế nào). Sau khi đã xác định được chính xác về yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện, thì:

      Trường hợp thứ nhất:

      Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP qui định “Chứng thực hợp đồng, giao dịch” là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch”. Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, qui định “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này”.  Điều 116 và Điều 385 Bộ Luật dân sự năm 2015 qui định “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” … “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, cần phải xác định “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” là “Hợp đồng, giao dịch dân sự”, bởi vì chủ thể trong văn bản này có sự tham gia của nhiều bên (ít nhất là của hai bên) và nội dung trong văn bản này có sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

      Khoản 3 và Khoản 14 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự qui định “Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”.

      Do đó, nếu như Người khởi kiện cho rằng “Giao dịch dân sự về việc xác lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế giữa ông Lê Văn L và ông Lê Văn Ngh” là trái pháp luật và khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố “Văn bản phân chia tài sản thừa kế là vô hiệu”, có nghĩa là “Khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu” thì Tòa án cần phải thụ lý vụ án dân sự và tiến hành xem xét giải quyết vụ án theo pháp luật Tố tụng dân sự.

      Trường hợp thứ hai:

      Khoản 3,4 Điều 2 Luật tố tụng hành chính qui định “Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”.. “Hành vi hành chính bị kiện là hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

      Do đó, nếu như Người khởi kiện cho rằng “Trưởng phòng tư pháp huyện H thực hiện chứng thực vào Văn bản phân chia tài sản thừa kế” là đã thực hiện chứng thực trái pháp luật và khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố “Việc Trưởng phòng tư pháp huyện H chứng thực Văn bản phân chia tài sản thừa kế, là trái pháp luật” có nghĩa là “Khởi kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực chứng thực” thì Tòa án cần phải thụ lý vụ án hành chính để xem xét giải quyết theo thẩm quyền được qui định tại Điều 30 Tố tụng hành chính.

        yuanping, ThanhLongLS cảm ơn minhquan1999 vì bài viết hữu ích
      • 1294

      1 phản hồi

      • Re:Dân sự hay hành chính?

        Đây sẽ là một vụ án kiện hành chính trong dân sự. 

        Khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu toà án tuyên huỷ GCN QSDĐ.

        Thẩm quyền giải quyết là Toà án nhân dân cấp tỉnh.

        Tuy nhiên tác giả cần lưu ý về thời hiệu hihi

         

        ThanhLongLS cảm ơn tuanphamm2310@gmail.com vì bài viết hữu ích
      Phản hồi

      Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT