Menu

Hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 về án treo

Đăng nhập

    Hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 về án treo

    của Lilynguyen1608 - 673 lượt xem
    Tạo chủ đề thảo luận
    • Lilynguyen1608 - 11/04/2018
      Hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 về án treo

      Ấn định thời gian thử thách bằng 02 lần mức phạt tù, Được hưởng án treo nếu có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ... Đây là những nội dung nổi bật đáng chú ý tại Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 về án treo vừa được Tòa án nhân dân tối cao ban hành.

      Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc họ phải chấp hành hình phạt tù.

       

       

      A. Được hưởng án treo nếu có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ

      Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

      Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

      1. Về mức hình phạt

      a) Người bị xử phạt tù không quá 03 năm về một tội.

      b) Đối với người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội hoặc có nhiều bản án, khi tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án mà hình phạt chung không quá 03 năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo, nhưng phải xem xét thật chặt chẽ, khách quan và công bằng.

      2. Về nhân thân của người phạm tội

      a) Người bị xử phạt tù không quá 03 năm có thể được xem xét cho hưởng án treo nếu ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng theo quy định của Luật Cư trú; không có tiền án, tiền sự.

      Trường hợp người có tiền án, tiền sự, nếu xét tính chất của tiền án, tiền sự đó, tính chất của tội phạm mới được thực hiện và các căn cứ khác thấy không nhất thiết phải bắt họ chấp hành hình phạt tù thì cũng có thể cho hưởng án treo, nhưng cần hạn chế và phải xem xét thật chặt chẽ, khách quan và công bằng.

      b) Khi xem xét về nhân thân của người phạm tội cần xem xét toàn diện tất cả các yếu tố như trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, quá trình học tập, công tác, lao động, đồng thời kết hợp với thái độ của họ sau khi phạm tội và yêu cầu phòng, chống tội phạm để đánh giá họ có nhiều khả năng tự cải tạo hay không,trên cơ sở đó mới quyết định bắt họ phải chấp hành hình phạt tù hay cho hưởng án treo; trường hợp cho họ hưởng án treo phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

      c) Người có thành tích xuất sắc trong lao động, chiến đấu, học tập hoặc công tác được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sỹ thi đua…; người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng; phạm tội do lỗi vô ý; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thì được coi là có nhiều khả năng tự cải tạo.

      3. Về tình tiết giảm nhẹ

      Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

      Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự từ 02 tình tiết trở lên.

      Mỗi tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự được xác định tương ứng với mỗi điểm quy định tại khoản 1 của các điều này.

       

       

       

      B. Ấn định thời gian thử thách bằng 02 lần mức phạt tù

      Khi cho người phạm tội hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm. Cách tính thời gian thử thách như sau:

      - Trường hợp người bị xử phạt tù không bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm.

      - Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giữ, tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành. Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng hai lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm.

      Ví dụ: Toà án xử phạt A 03 năm tù cho hưởng án treo. Do A đã bị tam giam 01 năm, như vậy mức hình phạt tù còn lại A phải chấp hành là 02 năm (03 năm – 01 năm = 02 năm). Tòa án ấn định thời gian thử thách đối với A là 04 năm (02 năm x 2 = 04 năm).

      >>> Chi tiết xem thêm tại Dự thảo Nghị quyết Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo

      Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và tình yêu không bao giờ kết thúc.

      ngolong2301 cảm ơn Lilynguyen1608 vì bài viết hữu ích
    • 9596

    Chưa có phản hồi

    Phản hồi

    Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT