Menu

Khởi tố vụ án hình sự

Đăng nhập

    Khởi tố vụ án hình sự

    của anhson24 - 3005 lượt xem
    Tạo chủ đề hỏi Luật sư
    • anhson24 - 10/01/2017
      Khởi tố vụ án hình sự

      Xin chào luật sư!

      Em nhờ luật sư tư vẫn em về việc khởi tố vụ án hình sự.cụ thể vào khoảng 33h 45 ngày 12 tháng 5 năm 2016 anh LÊ Đ.T. tới dáy nhà trọ em làm ồn. em nhắc khuyên nhủ bảo về trương chưởi bới em em đuổi về trường xông vào đánh người. được mọi người can ra  em bỏ về phòng đi ngượi đối mặt trường lúc này trường xông vào cả hai lại xô xát bất ngờ trường dùng dao thái lan trong người đâp em 4 nhát vào tay phải nách trái ngực phải và bụng gây lủng lòi ruột.kết quả giám định trung tâm pháp y kết quả tới 65% tới nay người gây an vẫn nhở nhơ ngoài vòng pháp luật. vì vậy em nhờ luật sư cho em biết em muons kiện trường ra tòa cần nhứng giấy gì ?

      Với vụ việc của em thời gian điều tra khởi tố vụ án bao nhiêu ngày

      Em muốn biết vụ an minh tới đâu cần tói cơ quan nào và giấy tờ gi không ah?

      Em xin cảm ơn luật sư! rất mong được sự trợ giúp của luật sư.

      • 5986

      3 phản hồi

      • LuatSuDuongVanMai - 14/01/2017
        Re: Khởi tố vụ án hình sự

        Về thời hạn xử lý đơn thư tố giác, tin báo về tội phạm được quy định tại Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, trách nhiệm và thời hạn xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thì:

         

        “1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
        2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
        .
        Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 02 tháng....”.
        Như vậy, theo quy định nêu trên, thời hạn kể từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi ra Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự là 20 ngày. Đối với trường hợp đặc biệt thì tối đa không quá 02 tháng.
        Do đó bạn cần phải làm đơn tố giác tố cáo tội phạm đến cơ quan công an cấp quận, huyện nơi xảy ra vụ việc để được giải quyết theo quy định.
        Đối với hậu quả và hành vi của người tên Trường có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích thậm chí là tội giết người theo quy định tại Điều 93 và Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.
        Điều 93 Tội giết người

        1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

        a) Giết nhiều người;

        b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

        c) Giết trẻ em;

        d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

        đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

        e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

        g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

        h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

        i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

        k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

        l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

        m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

        n) Có tính chất côn đồ;

        o) Có tổ chức;

        p) Tái phạm nguy hiểm;

        q) Vì động cơ đê hèn.

        2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

        3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.
        Điều 104 Tội cố ý gây thương tích:
        1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

        a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

        b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

        c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

        d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

        đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

        e) Có tổ chức;

        g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

        h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

        i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

        k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

        2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

        3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

        4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

        Trên đây là nội dung tư vấn của luật sư Dương Văn Mai, Đoàn luật sư Hà Nội cho trường hợp của bạn. Nếu còn vướng mắc bạn có thể tiếp tục gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc liên hệ trực tiếp tới luật sư để được tư vấn, hỗ trợ.

        Luật sư: DƯƠNG VĂN MAI - CÔNG TY LUẬT BÁCH DƯƠNG - TƯ VẤN LUẬT GỌI 1900 6280

        Địa chỉ: Tổ dân phố Quang Minh, phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

        Email: Lsduongmai@gmail.com - http://www.luatbachduong.vn

        Lĩnh vực hoạt động:

        1. Tư vấn pháp luật http://luatbachduong.vn/luat-su-tu-van

        2. Luật sư giải quyết các vụ án hình sự, tranh chấp: dân sự, kinh tế, thương mại, đất đai, thừa kế di chúc,Ly hôn... http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/luat-su-tham-gia-to-tung

        3. Luật sư đại diện ngoài tố tụng http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/luat-su-dai-dien-ngoai-to-tung

        4. Dịch vụ pháp lý khác - http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/cac-dich-vu-phap-ly-khac

      • Buituan0102 - 22/05/2020
        Đánh người Cố ý gây thương tích

        Vợ tôi bị người khác doạ danh trong công ty và có gọi điện cho tôi là tối lên Cty đơn và buổi tối len Cty Don thi gặp dc bạn doạ đánh vợ tôi de nói chuyện nhưng bên kia keu người di Don va co cầm cây Sắt đánh tôi trong khi tôi danh bằng Tay không dc không danh Nhau dc khoảng 2 -3 phút thi tôi co nhặt dc canh cây ben lề đường to khoảng 2-3cm quất Về phía bên kia k bít trúng dau bên Kia bỏ chạy thì tụi tôi bỏ về va bên Kia co người bi mù mắt thương tích la 42% trong trường hợp này tôi có bị an hình sự k và bị như thế nào và tôi có bồi thường thiệt hại cho bên kia và bên Kia Viết giấy bãi Nại cho tôi rồi 

        ThanhLongLS cảm ơn Buituan0102 vì bài viết hữu ích
      • thanhtungrcc - 22/05/2020
        Re: Danh người Co ý gây thương tích

        Theo quy định tại Điều 134 – Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

        “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

        a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

        b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

        c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

        d) Phạm tội 02 lần trở lên;

        đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

        e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

        g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

        h) Có tổ chức;

        i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

        k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

        l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

        m) Có tính chất côn đồ;

        n) Tái phạm nguy hiểm;

        o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

        2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

        3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

        4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

        5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

        6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

        a) Làm chết 02 người trở lên;

        b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

        c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

        7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

        Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì hành vi cố ý gây thương tích của của bạn cho người nhóm bên kia đã đủ yếu tố để cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác theo Điều 144 Bộ luật hình sự. Nếu như  bạn bị khởi tố vì hành vi cố ý gây thương tích thì khi bị khởi tố công an sẽ điều tra và xác định tỷ lệ thương tật của người bị hại (42%) và dưạ vào tỷ lệ thương tật thì bạn sẽ phải chịu các khung hình phạt quy định tại khoản 2 tại Điều 134 Bộ luật hình sự.

        Pháp luật quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 :

        1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

        Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng có những quy định liên quan đến khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại đó là:

        + Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

        Tuy nhiên, nếu bạn bị khởi tố tại Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự thì không thuộc trường hợp theo quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nêu trên, nên bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự mặc dù người bị hại đã có đơn bãi nại. Do đó việc gia đình nạn nhân viết đơn xin bãi nại không phải là căn cứ để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bạn. Tuy nhiên, việc gia đình nạn nhân làm đơn xin bãi nại và tình tiết gia đình bạn đã bồi thường, khắc phục thiệt hại sẽ được xem xét là các tình tiết giảm nhẹ khi cơ quan tố tụng xem xét hành vi của bạn.

        Luật sư: Nguyễn Thanh Tùng;

        Văn phòng luật sự Phạm Hồng Hải và Cộng sự - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội;

        Email: luatsuthanhtung@gmail.com;

        ThanhLongLS cảm ơn thanhtungrcc vì bài viết hữu ích
      Hỏi tiếp

      Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT