Menu

Lái xe ôtô gây tai nạn chết người bị xử thế nào?

Đăng nhập

    Lái xe ôtô gây tai nạn chết người bị xử thế nào?

    của manxuanbo - 29628 lượt xem
    Tạo chủ đề hỏi Luật sư
    • manxuanbo - 23/11/2011
      Lái xe ôtô gây tai nạn chết người bị xử thế nào?

       

      Thưa luật sư, tôi xin được hỏi như sau:
        Ngày 4/11 vừa qua Em tôi đi xe máy, trên đuờng về nhà có vượt 1 chiếc ôto. Sau khi vượt qua , em tôi tránh đường cho chiếc xe máy khác đi ngược chiều, do đoạn đường quá xấu, xe của em tôi bị đổ. Em tôi ngã ra ngoài, Lúc đó chiếc xe tải kia đi đến và cán vào đầu em tôi làm em tôi chết tại chỗ. Co nhân chứng kể rằng em tôi đi rất chậm, khi ngã xuống em tôi đã ngóc dậy nhưng lại bị ôtô đâm phải. Tai hiện truờng em tôi vẫn đội mũ bảo hiểm, tay và chân còn gác trên xe máy. vậy xin hỏi người lái xe ôto đâm vào em tôi se bị xử như thế nao?
       Rất mong được tư vấn sơm của luật sư để gia đình tôi cũng như hương hồn của em tôi được yên lòng. Cảm ơn luật sư.
      • 40551

      7 phản hồi

      • phamthanhtaimd - 28/11/2011
        Re: Lái xe ôtô gây tai nạn chết người bị xử thế nào?

        Chào bạn!

        Vì thông tin bạn cung cấp không đầy đủ, hơn nữa luật sư chúng tôi lại không được nghiên cứu hồ sơ vụ án, do vậy chúng tôi chỉ đưa ra ý kiến trên cơ sở nguyên tắc chung như sau:

        Theo quy định tại khoản 1 điều 202, Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 về Tội vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ: “Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

        Do vậy người điều khiển xe ô tô có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi vi phạm các quy định an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng sức khỏe, tài sản của người khác.

        Trân trọng!

        Luật sư-Thạc sỹ luật học Phạm Thành Tài

        - Giám đốc Công ty luật Phạm Danh – Đoàn luật sư TP Hà Nội.

        ĐC: Tầng 1, Nhà C, Đền Lừ 1, quận Hoàng Mai, HN.

        ĐT: 04.36342301/0913378662 - 0904883477

        Email: pttailawyer@yahoo.com/luatphamdanh@gmail.com

        Web: http://luatphamdanh.net/luatsuhonnhan.com

        manxuanbo cảm ơn phamthanhtaimd vì bài viết hữu ích
      • Cuonglawyer - 29/11/2011
        Re: Lái xe ôtô gây tai nạn chết người bị xử thế nào?
        Chào bạn manxuanbo!
        Luật sư Đặng Văn Cường trả lời bạn như sau:
                   1. Trách nhiệm hình sự: Nếu người lái xe có lỗi đối với vụ tai nạn đó (ví dụ: Phóng nhanh, vượt ẩu, không quan sát mặt đường, không làm chủ được tốc độ, đi sai phần đường, không có giấy phép lái xe...) thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 BLHS. Bạn có thể tham khảo thêm quy định tại Nghị quyết số02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TAND tối cao để biết cụ thể về khung hình phạt. Nếu người lái xe đó đã đi đúng tốc độ, đúng làn đường, và không có vi phạm nào khác; việc vượt xe ô tô của em bạn là vượt ẩu gây ra tai nạn (việc ô tô đâm phải là sự kiện bất ngờ) thì người lái xe sẽ không chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ có thể bị bồi thường dân sự (do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra). Cụ thể vụ việc có dấu hiệu tội phạm hay không phải căn cứ vào sơ đồ hiện trường, các vật chứng, dấu vết hiện trường và lời khai của các nhân chứng...
                   2. Trách nhiệm dân sự: Có thể lái xe không phạm tội nhưng chủ xe  vẫn phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bạn theo quy định tại Điều 623 BLDS, cụ thể như sau:
                   "Ðiều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

         1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

         Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

         2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

         3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

         a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

         b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

         4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

         Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

        Mức bồi thường  cũng được BLDS năm 2005 quy định như sau:

        "Ðiều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

        1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

        a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

        b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

        c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

        2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Ðiều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.".

        Các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết số03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của HĐTP TAND tối cao. Bạn có thể xem thêm văn bản này để biết thêm chi tiết.

        Thạc sĩ, luật sư: ĐẶNG VĂN CƯỜNG - ĐT: 0977999896 - http://trungtamtuvanphapluat.vn

        Địa chỉ: Văn phòng luật sư Chính Pháp, Số 65b phố Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội.

        - Điện thoại/Fax:0437.327.407

        -Gmail: LuatsuChinhPhap@gmail.com

        - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

        - https://www.facebook.com/luatsuchinhphap

        I. DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG LUẬT SƯ CHÍNH PHÁP:

        Tranh tụng + Tư vấn + Đại diện ngoài tố tụng + Soạn thảo văn bản. Cụ thể như sau:

        1. Luật sư bào chữa, tranh tụng trong các vụ án: Hình sự, Dân sự, Lao động, Hành chính, Kinh doanh, thương mại;

        2. Luật sư thay mặt khách hàng: làm người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng và Đại diện ngoài tố tụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý; Thương thuyết, Đàm phán hợp đồng; Thu hồi các khoản nợ khó đòi...

        3. Luật sư tư vấn pháp luật: Trực tiếp, bằng văn bản hoặc Email cho các tố chức, cá nhân đối với mọi lĩnh vực pháp luật. Tư vấn theo vụ việc hoặc tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp. Tư vấn thường xuyên cho các Báo điện tử trong mục Giải đáp pháp luật và Dịch vụ luật sư riêng.

        4. Luật sư thực hiện thủ tục hành chính trọn gói: Đăng ký kinh doanh; Xin cấp GCN QSD đất lần đầu, Khai nhận di sản thừa kế, Đăng ký sang tên khi mua bán, chuyển nhượng BĐS, Chuyển mục đích sử dụng đất...

        5. Luật sư soạn thảo: Hợp đồng, Di chúc, Đơn thư và các văn bản pháp lý khác theo yêu cầu.

        II. TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ cho mọi đối tượng (Liên hệ ngoài giờ hành chính):

        1. Hình thức tư vấn miễn phí:

        Luật sư Đặng Văn Cường thường xuyên tư vấn pháp luật miễn phí qua 3 hình thức:

        - Điện thoại: 0977.999.896

        - Gmail: Luatsuchinhphap@gmail.com

        - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

        - Website: http://trungtamtuvanphapluat.vn

        - https://www.facebook.com/cuongluatsuchinhdai

        2. Thời gian tư vấn pháp luật miễn phí: Từ 19h-21h hàng ngày và cả ngày Thứ 7 + Chủ nhật

        III. BÀO CHỮA MIỄN PHÍ:

        Ths. Luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư Hà Nội thường xuyên bào chữa miễn phí cho các đối tượng là: Người chưa thành niên; Người nghèo, Thân nhân liệt sĩ và Người có công với cách mạng.

        Văn phòng luật sư Chính Pháp cần tuyển dụng: Luật sư và Cộng tác viên làm việc tại Hà Nội và trưởng Chi nhánh ở các tỉnh Phía Bắc.

        manxuanbo, hoangquyetauto cảm ơn Cuonglawyer vì bài viết hữu ích
      • hoangquyetauto - 23/02/2012
        Re:Lái xe ôtô gây tai nạn chết người bị xử thế nào?
        Chào luật sư!
        Luật sư cho tôi xin hỏi một việt như sau:
        Chị tôi trên đường đi làm cách đây 2 tuần, trên đường đi cùng một người nữa và đã không may bị chiếc xe tải trở quá trọng tải đâm vào từ đằng sau và lái xe  đã xuống xe xem rồi lại nên xe cố tình lùi xe lại và lái xe đã vào công an xã khai báo sau đó gia đình tôi đưa chị tôi đi cấp cứu mà không qua khỏi và người đi cùng bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng và vẫn tỉnh khi tai nạn xảy ra.Luật sư cho tôi hỏi trách nhiệm dân sự và hình sự đối với lái xe và chủ xe ô tô thế nào? và gia đình chúng tôi phải làm sao ( vì bên gây hại đã cố tình chạy công an về hiện trường). hiện trường vụ án chứng minh lái xe có lùi nhưng chưa xác định rõ mục đích. 
        Tôi xin trân thành cảm ơn!
      • phamthanhtaimd - 21/03/2012
        Re:Lái xe ôtô gây tai nạn chết người bị xử thế nào?

        Chào bạn!

        Căn cứ Điều 202 Bộ luật hình sự quy định về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thì:

        1.   Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

        2.   Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

        a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

        b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

        c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

        d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

        đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

        3.   Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

        4.   Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

        5.   Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

        Ngoài ra người phạm tôi còn phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho những thiệt hại thực tế về vật chất cũng như tinh thần cho nạn nhận và gia đình nạn nhân. Mức bồi thường có thể do hai bên thỏa thuận, trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định.

        Trân trọng !

        Luật sư-Thạc sỹ luật học Phạm Thành Tài

        - Giám đốc Công ty luật Phạm Danh – Đoàn luật sư TP Hà Nội.

        ĐC: Tầng 1, Nhà C, Đền Lừ 1, quận Hoàng Mai, HN.

        ĐT: 04.36342301/0913378662 - 0904883477

        Email: pttailawyer@yahoo.com/luatphamdanh@gmail.com

        Web: http://luatphamdanh.net/luatsuhonnhan.com

      • Cuonglawyer - 21/03/2012
        Re:Lái xe ôtô gây tai nạn chết người bị xử thế nào?
        Chào bạn! Luật sư Phạm Thành Tài đã trả lời bạn, tôi bổ sung như sau:
                1. Nếu Cơ quan tố tụng chứng minh được mục đích lùi xe của lái xe là giết hại nạn nhân thì lái xe sẽ bị xử lý về hai tội là Tội giết người theo quy định tại Điều 93 BLHS và Tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như Luật sư Tài đã trích dẫn.
                2. Ngoài trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự nêu trên, chủ xe (hoặc lái xe) còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và hướng dẫn tại mục II, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/6006 của HDDTP TAND tối cao, cụ thể như sau:
        "<!--[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif]--><!--[if gte mso 9]> <![endif]--><!--[if gte mso 10]> <![endif]-->

                    II. Xác định thiệt hại

        1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

        Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

        1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

        1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

        a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

        - Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

        - Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

        - Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

        - Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.

        b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:

        Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.

        Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

        Ví dụ 1: A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu nhập thực tế của A trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là một triệu đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của A bị mất.

        Ví dụ 2: B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 600 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 300 ngàn đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 300 ngàn đồng.

        Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 500 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.

        1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

        a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

        b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:

        - Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

        - Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

        - Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

        - Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

        1.4. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

        a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

        b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

        1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

                    a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

                    b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…

                    c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

                    2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

                    2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.

                    2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

                   2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

                     a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.          

                    Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

                     b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng. 

                    - Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

                    - Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

                    - Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

                    - Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

                    - Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

                    - Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

                    - Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

                    - Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

                    - Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

                     2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.

         

                    a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

                     b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại. 

                    c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại… 

                    d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường”.

        Thạc sĩ, luật sư: ĐẶNG VĂN CƯỜNG - ĐT: 0977999896 - http://trungtamtuvanphapluat.vn

        Địa chỉ: Văn phòng luật sư Chính Pháp, Số 65b phố Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội.

        - Điện thoại/Fax:0437.327.407

        -Gmail: LuatsuChinhPhap@gmail.com

        - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

        - https://www.facebook.com/luatsuchinhphap

        I. DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG LUẬT SƯ CHÍNH PHÁP:

        Tranh tụng + Tư vấn + Đại diện ngoài tố tụng + Soạn thảo văn bản. Cụ thể như sau:

        1. Luật sư bào chữa, tranh tụng trong các vụ án: Hình sự, Dân sự, Lao động, Hành chính, Kinh doanh, thương mại;

        2. Luật sư thay mặt khách hàng: làm người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng và Đại diện ngoài tố tụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý; Thương thuyết, Đàm phán hợp đồng; Thu hồi các khoản nợ khó đòi...

        3. Luật sư tư vấn pháp luật: Trực tiếp, bằng văn bản hoặc Email cho các tố chức, cá nhân đối với mọi lĩnh vực pháp luật. Tư vấn theo vụ việc hoặc tư vấn pháp luật thường xuyên cho Doanh nghiệp. Tư vấn thường xuyên cho các Báo điện tử trong mục Giải đáp pháp luật và Dịch vụ luật sư riêng.

        4. Luật sư thực hiện thủ tục hành chính trọn gói: Đăng ký kinh doanh; Xin cấp GCN QSD đất lần đầu, Khai nhận di sản thừa kế, Đăng ký sang tên khi mua bán, chuyển nhượng BĐS, Chuyển mục đích sử dụng đất...

        5. Luật sư soạn thảo: Hợp đồng, Di chúc, Đơn thư và các văn bản pháp lý khác theo yêu cầu.

        II. TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ cho mọi đối tượng (Liên hệ ngoài giờ hành chính):

        1. Hình thức tư vấn miễn phí:

        Luật sư Đặng Văn Cường thường xuyên tư vấn pháp luật miễn phí qua 3 hình thức:

        - Điện thoại: 0977.999.896

        - Gmail: Luatsuchinhphap@gmail.com

        - Website: http://luatsuchinhphap.hanoi.vn

        - Website: http://trungtamtuvanphapluat.vn

        - https://www.facebook.com/cuongluatsuchinhdai

        2. Thời gian tư vấn pháp luật miễn phí: Từ 19h-21h hàng ngày và cả ngày Thứ 7 + Chủ nhật

        III. BÀO CHỮA MIỄN PHÍ:

        Ths. Luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư Hà Nội thường xuyên bào chữa miễn phí cho các đối tượng là: Người chưa thành niên; Người nghèo, Thân nhân liệt sĩ và Người có công với cách mạng.

        Văn phòng luật sư Chính Pháp cần tuyển dụng: Luật sư và Cộng tác viên làm việc tại Hà Nội và trưởng Chi nhánh ở các tỉnh Phía Bắc.

      • Khoan8560 - 17/05/2020
        Lái xe vô ý gây tai nạn làm chết người có cơ hội hưởng án treo?

        Kính thưa luật sư 

        Tình hình là ngày 3/5 vừa rồi em có điều khiển xe ôtô con xảy ra va chạm với một ông bác đi xe đạp hậu quả bác ấy nằm viện được vài hôm rồi mất.

        Chi tiết sự việc là xe em với xe bác ấy lưu thông cùng chiều trên QL53 lúc đó xe em đi từ sau bác ấy lên em đi tầm 60 đến 70 km/h em phát hiện được bác ấy ở phía trước mình lúc còn 6 7m gì ấy thì em định vượt lên bất ngờ xe ôtô khách ngược chiều đánh lái ra vượt em hoảng quá vội đánh lái vào lề phải hậu quả xe em đụng trúng xe đạp bác ấy rồi hất bác ấy lên kính chắn gió xe em làm đầu bác ấy đập vào kính bị vỡ kết quả đầu bác ấy bị kính vỡ cắt một đường dài khoảng 20cm và khá sâu sau đó bác ấy mới rớt xuống dưới lề đường,  lúc đó em không phanh xe gấp được vì quá hoảng  nên chiếc xe em trôi qua khỏi hiện trường va chạm tầm 150m thì em dừng lại, vừa xuống xe là em chạy ngay lại và đưa bác ấy đi cấp cứu.lúc đó em không có cồn hay ma túy nhá.

        Lúc gặp được người đại diện của bác ấy thì em đã thỏa thuận bồi thường 100 triệu là bao gồm viện phí,thuốc men,hòm rương,ma chay,... Và gia đình bên kia cũng bảo không cần thêm gì nữa, sau đó gia đình bên đó viết bãi nại cho em rồi. Lưu ý là từ khi bác ấy nhập viện đến lúc mất đến hôm an táng lúc nào em cũng túc trực với lại bác ấy là thương binh.

        Vậy theo luật sư trường hợp như em có cơ hội được hưởng án treo không luật sư .

        Mong nhận được phản hồi sớm từ luật sư, em xin cảm ơn ạ

        ThanhLongLS cảm ơn Khoan8560 vì bài viết hữu ích
      • thanhtungrcc - 17/05/2020
        Re: Lái xe vô ý gây tai nạn làm chết người có cơ hội hưởng án treo?

        Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:

        “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

        a) Làm chết người;

        b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

        c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

        d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

        2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

        a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

        b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

        …”

        Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì người tham gia giao thông mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông gây thiệt hại thuộc các trường hợp quy định tại Điều 260 đã nêu trên thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

        Với những thông tin bạn cung cấp, chúng tôi chưa xác định được bạn có lỗi gây ra thiệt hại trong trường hợp này hay không. Do đó, nếu bạn có lỗi trong quá trình điều khiển phương tiện giao thông và đây là lỗi trực tiếp dẫn đến thiệt hại trong trường hợp này thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Như vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 260 Bộ luật này thì bạn là người gây ra tai nạn xâm phạm đến tính mạng của người khác có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

        Theo quy định tại điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, việc gia đình bạn bồi thường thiệt hại cho nạn nhân chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”, gia đình nạn nhân đã viết bãi nại đã ký chứng minh cho việc bồi thường thiệt hại này. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt chứ không loại trừ trách nhiệm hình sự của bạn, tức là bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đã thực hiện hành vi vi phạm. Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

        Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

        Luật sư: Nguyễn Thanh Tùng ; Điện thoại tư vấn: 0913 586 658

        Văn phòng luật sự Phạm Hồng Hải và Cộng sự - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội;

        Email: luatsuthanhtung@gmail.com; https://sonapexseahouse.blogspot.com/

        ThanhLongLS cảm ơn thanhtungrcc vì bài viết hữu ích
      Hỏi tiếp

      Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT