Menu

Người thi hành án tù mà mắc bệnh hiểm nghèo có được xét giảm án?

Đăng nhập

    Người thi hành án tù mà mắc bệnh hiểm nghèo có được xét giảm án?

    của gionghl - 7896 lượt xem
    Tạo chủ đề hỏi Luật sư
    • gionghl - 07/06/2008
      Người thi hành án tù mà mắc bệnh hiểm nghèo có được xét giảm án?

      Chào Luật sư,

      Tôi muốn hỏi là tôi đã bị kết án tù 7 năm 6 tháng. Hiện nay tôi đang được tại ngoại để chữa bệnh HIV thời gian là 12 tháng.

      Tôi muốn hỏi là trong thời gian tại ngoại, tôi có được trừ thời gian thi hành án không? Và tôi được hoãn thi hành án đến khi nào? Sau khi hết hạn tôi phải làm sao để được gia hạn tiếp.

      Và trường hợp như thế nào được xét duyệt giảm án? Theo như tôi được biết là bệnh của tôi không có thuốc chữa vậy tôi có phải đi thi hành án nữa không?

      Trong thời gian tôi tại ngoại chữa bệnh đến ngày được đặc xá tôi có được xét duyệt hay không?

      Mong Luật sư tư vấn giùm tôi.

      • 8754

      3 phản hồi

      • LS_NgDinhHung - 10/06/2008
        Re:Người thi hành án tù mà mắc bệnh hiểm nghèo có được xét giảm án?

        Căn cứ điểm c khoản 2 điều 10 của Luật Đặc Xá ngày 21.112007, có hiệu lực từ 01.3.2008: “Người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền” là một trong những điều kiện để xem xét đặc xá cho người đang thi hành án phạt tù.

        Như vậy trường hợp của bạn sẽ được xem xét trong các đợt đặc xá khi Luật có hiệu lực pháp luật (sau 01.3.2008).

        Trong luật không có khái niệm tại ngoại để trị bệnh, có thể bạn được cho hoãn thi hành án để trị bệnh, nên thời gian này không được trừ vào thời gian thi hành án, khi hết hạn việc gia hạn tuỳ thuộc vào đề nghị của cơ quan y tế đang điều trị cho bạn, người có thẩm quyền sẽ có quyết định cho hay không cho tiếp tục trị bệnh.

      • Duyen123456 - 22/08/2008
        Nhắn tin xúc phạm người khác nên phải đi gặp CA?
        Kính thưa Luật sư.

        Gia đình em rất hoang mang về trường hợp em T như sau:
        Em T có người bạn cùng làm chung Cty tên Th, Bạn Th cho em T số ĐT của bạn gái để làm quen, khi em T nhắn tin qua lại  với bạn gái kia thì chồng cô ta phát hiện và nhắn tin lại chửi em T, và 2 người chửi nhau thô tục, tưởng mọi chuyện không có gì xảy ra. Hôm qua, anh xưng tên H, làm cảnh sát hình sự q1, lên nhà em T qua người quen chỉ nhà và đén cty em T làm và gặp T lấy lời khai, em T thừa nhận có chửi ,em T trả lời rằng , "anh  đó chửi em trứoc em mới chủi lại". Anh CSHS hẹn em T thứ 2   tới xuống gặp anh H để giải quyết nếu nặng phạt từ 5triệu đến 10tr đồng? Anh H đe dọa rằng:"tùy mầy không xuống tao lên lần nữa là mệt đó?".
        Xin cho em hỏi em T  nếu có vi phạm xúc phạm người khác thì mức hình phạt như anh H nói có đúng không? và anh chồng kia có bị phạt không?
        theo em nghỉ  nếu anh H là cảnh sát hình sự thì khi triệu tập người nào đó phải có giấy triệu tập của cấp trên, còn đằng này anh H chỉ viết tờ giấy trắng ghi tên H, địa chỉ chổ H làm việc, số di động, hẹn 8h có mặt tại đó nhá máy anh H ra đón.
        Theo Luật sư có nên để em T g ặp mặt anh H không? và gia đình em phải làm gì để an toàn cho em T vì bị đe dọa?
        Em rất mong câu trả lời của Luật sư gấp vì thứ 2 ngày 25/08/2008 là gặp nhau. em xin cảm ơn
      • lsnguyenhoanglinh - 22/08/2008
        Re:Nhắn tin xúc phạm người khác nên phải đi gặp CA?
        Chào Quý Ông Bà

        Theo thông tin Quý Ông Bà nêu, chúng tôi cho rằng hành vi của anh "CSHS H" có dấu hiệu tiêu cực. Theo quy định tại thông tư số Số: 01/2006/TT-BCA(C11) thì :

        "1.4. Giấy triệu tập là biểu mẫu tố tụng hình sự được sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự nên chỉ Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được sử dụng. Việc sử dụng giấy triệu tập phải đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định.

        Giấy triệu tập bị can tại ngoại; giấy triệu tập hoặc giấy mời người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đến Cơ quan điều tra để làm việc chỉ có giá trị làm việc trong một lần.


        Nghiêm cấm lợi dụng việc sử dụng giấy triệu tập để giải quyết các việc không đúng mục đích, đối tượng, chức năng, thẩm quyền như lợi dụng việc ký, sử dụng giấy triệu tập gọi hỏi nhiều lần về các vấn đề không quan trọng, không liên quan đến vụ án hoặc hỏi đi hỏi lại về một vấn đề mà họ đã trình bày, v.v... làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, làm mất uy tín cửa cơ quan, tổ chức, cá nhân.

        Nghiêm cấm Điều tra viên gọi điện thoại hoặc thông qua người khác để yêu cầu người được triệu tập đến làm việc mà không có giấy triệu tập hoặc giấy mời.


        Trước khi triệu tập hoặc mời thì Điều tra viên phải tính toán về thời gian, về việc đi lại của người được triệu tập để tránh gây phiền hà về thời gian hoặc đi lại nhiều lần của người được triệu tập hoặc được mời. Nếu người được triệu tập hoặc được mời ở quá xa trụ sở của Cơ quan điều tra thì có thể triệu tập hoặc mời họ đến trụ sở Công an nơi ở hoặc nơi làm việc của họ để lấy lời khai hoặc báo cáo đề xuất Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án thực hiện việc ủy thác điều tra
        ."


        Chiếu theo quy định trên thì việc H yêu cầu T đến cơ quan của H để làm việc mà không có giấy triệu tập hoặc giấy mời là trái với quy định của pháp luật.

        Hơn nữa, cần phài lưu ý rằng "Giấy triệu tập là biểu mẫu tố tụng hình sự được sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự nên chỉ Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được sử dụng. Việc sử dụng giấy triệu tập phải đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định"

        Nếu Quý Ông Bà có gặp khó khăn gì về pháp lý, vui lòng liên lạc với chúng tôi để được tư vấn thêm.

        Trân trọng,

        LS. Nguyễn Hoàng Linh
        Tel: 0903 93 92 98

      Hỏi tiếp

      Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT