Menu

Thuế TNCN đối với hàng tặng kèm

Đăng nhập

    Thuế TNCN đối với hàng tặng kèm

    của linhtrang123456 - 2046 lượt xem
    Tạo chủ đề thảo luận
    • linhtrang123456 - 31/12/2017
      Thuế TNCN đối với hàng tặng kèm

      Mình có một trường hợp muốn tham khảo ý kiến của các bạn đối với việc nộp thuế thu nhập cá nhân đối với hàng tặng kèm như sau:
      Trường hợp là bên công ty bất động sản thực hiện việc mua bán nhà, khi thực hiện hợp đồng mua bán thì có tặng kèm theo một điện thoại iphone X (giá trị khoảng 32 triệu) không có yêu cầu thêm điều kiện gì cả. Vậy người mua khi mua nhà có phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với chiếc điện thoại này hay không?

      Theo tìm hiểu của mình thì tại Điều 92 Luật Thương mại 2005 quy định các hình thức khuyến mại:

       “Điều 92. Các hình thức khuyến mại

      5. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

      6. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.”

       

      -Tại điểm b, khoản 6 và khoản 10 Điều 3 Luật Thuế TNCN 2007 quy định:

      6. Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:

       

      ...b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại;

      ...10. Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khóan, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.”

      - Tại điểm b, khoản 6, Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 8 năm 2013 hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn “6. Thu nhập từ trúng thưởng

      ……b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại khi tham gia mua bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Thương mại.”

      Trường hợp Công ty cho, tặng hiện vật cho khách hàng không thu tiền mà hiện vật là tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng với cơ quan quản lý nhà nước thì thu nhập mà khách hàng nhận được thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân từ quà tặng. Trường hợp Công ty thực hiện chương trình khuyến mại theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 92 của Luật Thương mại thì khoản tiền/hiện vật cá nhân nhận được từ hoạt động trúng thưởng vượt trên 10 triệu đồng thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân từ trúng thưởng.

      Còn trường hợp công ty tặng điện thoại mà không kèm theo điều kiện gì thì không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Không rõ như vậy có đúng không? Các bạn trao đổi giúp mình nhé.

       

        thamnguyen0909 cảm ơn linhtrang123456 vì bài viết hữu ích
      • 4265

      2 phản hồi

      • thamnguyen0909 - 10/03/2020
        Re: Thuế TNCN đối với hàng tặng kèm

        Theo mình thì chiếc điện thoại mà khách hàng nhận được là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân từ quà tặng. Bởi việc công ty bất động sản tặng điện thoại cho khách mua nhà có thể xem như một hợp đồng tặng cho có điều kiện (phải mua nhà thì mới được tặng). Do vậy, khách hàng sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với chiếc điện thoại này.

      • Haitran1995 - 30/04/2020
        Re:Thuế TNCN đối với hàng tặng kèm

        Tại điểm b, khoản 6 và khoản 10 Điều 3 Luật Thuế TNCN 2007 quy định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm:

        “6. Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:

        …b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại;

        …10. Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khóan, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.”

        Điểm b, khoản 6, Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn “6. Thu nhập từ trúng thưởng

        ……b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại khi tham gia mua bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Thương mại.”

        Các trường hợp nào là hình thức khuyến mại được quy định:

        Tại Điều 92 Luật Thương mại 2005 quy định các hình thức khuyến mại: “Điều 92. Các hình thức khuyến mại

        Đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền.

        Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền.

        Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

        Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.

        Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

        Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

        Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác.

        Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.

        Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận

        Như vậy, đối với các trường hợp này, ngừoi mua hàng nhận được chiếc điện thoại, đây là phần quà cho tất cả các khách hàng, không tổ chức bốc thăm …như tại điều 5, 6 ở trên đồng thời quà tặng không phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng với cơ quan quản lý nhà nước thì thu nhập từ chiếc điện thoại mà khách hàng nhận được KHÔNG thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân từ quà tặng.

      Phản hồi

      Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT