Menu

Từ 18/10/2019 Đảng viên bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ khi nào?

Đăng nhập

    Từ 18/10/2019 Đảng viên bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ khi nào?

    của buiquangbinh071214 - 697 lượt xem
    Tạo chủ đề thảo luận
    • buiquangbinh071214 - 30/10/2019
      Từ 18/10/2019 Đảng viên bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ khi nào?
       
      Đảng viên bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ khi đảng viên không đạt mức “Hoàn thành nhiệm vụ” hoặc thuộc một trong các trường hợp sau:
       
      - Cấp có thẩm quyền kết luận đánh giá có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
       
      - Chỉ hoàn thành dưới 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao trong năm.
       
      - Đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức xếp loại ở mức “Không hoàn thành nhiệm vụ”.
       
      - Đảng viên bị thi hành kỷ luật trong năm (một vi phạm bị xử lý kỷ luật chỉ tính một lần khi xếp loại).
       
      Hướng dẫn này so với hướng dẫn trước là không có sự khác biệt, tuy nhiên có quy định mới thì cũng cập nhật để những ai là đảng viên thì cùng tham khảo, và nắm bắt thông tin.
       
      Theo đó, những điều lưu ý tại quy định này là cán bộ, công chức, viên khi đã bị đánh giá là không hoàn thành nhiệm vụ được giao khi công tác tại các đơn vị thì cũng sẽ bị đánh giá về mặt đảng là không hoàn thành nhiệm vụ. Và một điểm lưu ý nữa là đảng viên bị thi hành kỷ luật cũng sẽ bị đánh giá, xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ về mặt đảng. Đây là hai trường hợp mà đảng viên rất hay gặp phải, do đó các đảng viên nên chú ý và lưu tâm vấn đề này.
        ThanhLongLS, HNP1997 cảm ơn buiquangbinh071214 vì bài viết hữu ích
      • 1597

      2 phản hồi

      • HNP1997 - 30/10/2019
        Re: Từ 18/10/2019 Đảng viên bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ khi nào?

        cảm ơn ad vì bài viết hữu ích...mà sẵn tiện bạn cho mình hỏi hiện nay bạn có biết trường hợp nào Đảng viên sinh con thứ ba mà không bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ không?

      • buiquangbinh071214 - 28/11/2019
        Re:Từ 18/10/2019 Đảng viên bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ khi nào?
        Theo Khoản 1 Điều 27 Quy định 102/QĐ-TW năm 2017 quy định đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng hoặc vi phạm trong trường hợp sinh con thứ ba (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách.
         
        Theo đó tại Hướng dẫn 21-HD/BTCTW năm 2019 có quy định đảng viên không đạt mức “Hoàn thành nhiệm vụ” hoặc thuộc một trong các trường hợp sau:
         
        - Cấp có thẩm quyền kết luận đánh giá có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
         
        - Chỉ hoàn thành dưới 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao trong năm.
         
        - Đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức xếp loại ở mức “Không hoàn thành nhiệm vụ”.
         
        - Đảng viên bị thi hành kỷ luật trong năm (một vi phạm bị xử lý kỷ luật chỉ tính một lần khi xếp loại).
         
        => Như vậy, khi đảng viên sinh con thứ 3 sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách, và một đảng viên đã thi hành quyết định kỷ luật trong năm thì sẽ bị đánh giá là không hoàn thành nhiệm vụ về mặt đảng.
         
        Bạn tham khảo những trường hợp sinh con không bị coi là vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình tại Quy định 05-QĐi/TW năm 2018 như sau:
         
        1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỉ lệ nhỏ hơn hoặc bằng tỉ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
         
        2. Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.
         
        3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.
         
        4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.
         
        5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.
         
        6. Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):
         
        a) Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ).
         
        b) Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.
         
        7. Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.
         
        8. Sinh con thứ ba trở lên trước ngày 19/01/1989 (ngày có hiệu lực thi hành Quyết định số 162-HĐBT, ngày 18/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về một số chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình).
         
        9. Trường hợp sinh con thứ ba do mang thai ngoài ý muốn, nếu thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ người mẹ (có xác nhận của bệnh viện cấp huyện và tương đương trở lên).

         

        ThanhLongLS cảm ơn buiquangbinh071214 vì bài viết hữu ích
      Phản hồi

      Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT