Menu

Xin cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất

Đăng nhập

    Xin cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất

    của Thanhong123 - 646 lượt xem
    Tạo chủ đề hỏi Luật sư
    • Thanhong123 - 14/12/2018
      Xin cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất
      Xin chào luật sư. Cho em được hỏi là: Nhà bà e có quyết định về cấp giao đất đấu thầu thổ cư do xã cấp năm 1995. Và năm đó đã đóng tiền sử dụng đất cho xã để được cấp (GCN). Đến nay vẫn chưa có. Vậy trường hợp này có được quyền cấp (GCN) theo quy định của pháp luật không ạ. Và nếu được thì thực hiện các bước ra sao ạ. Xin cảm ơn
    • 976

    17 phản hồi

    • LuatSuDuongVanMai - 15/12/2018
      Re: Xin cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất

      Trường hợp này gia đình bạn vẫn làm hồ sơ đề nghi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thủ tục chung, mặc dù gia đình đã nộp tiền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1995 nhưng đến nay vẫn chưa có giấy chứng nhận thì tốt nhất nên thực hiện lại thủ tục này.
      Gia đình bạn cần thực hiện kê khai theo quy định chung và đóng góp lệ phí theo quy định. Trước tiên việc kê khai được thực hiện tại UBND xã phường nơi có thửa đất đó bạn nhé.
      Hồ sơ cần có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kết quả trúng đấu giá, hồ sơ bàn giao thửa đất, hồ sơ tài liệu về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với thửa đất.
      Sau khi được UBND xã phường xác nhận không có tranh chấp thì hồ sơ của gia đình bạn sẽ được chuyển đến Văn phòng đăng ký đất đai cấp quận, huyện nơi có thửa đất để hoàn tất quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

       

      Đó là nội dung Luật sư Dương Văn Mai, Công ty luật Bách Dương tư vấn cho bạn, nếu còn vướng mắc bạn có thể hỏi tiếp hoặc gọi tới Trung tâm tư vấn luật trực tuyến 19006280 của Công ty luật Bách Dương để nghe luật sư tư vấn./.

      Trân trọng!

      Luật sư: DƯƠNG VĂN MAI - CÔNG TY LUẬT BÁCH DƯƠNG - TƯ VẤN LUẬT GỌI 1900 6280

      Địa chỉ: Tổ dân phố Quang Minh, phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

      Email: Lsduongmai@gmail.com - http://www.luatbachduong.vn

      Lĩnh vực hoạt động:

      1. Tư vấn pháp luật http://luatbachduong.vn/luat-su-tu-van

      2. Luật sư giải quyết các vụ án hình sự, tranh chấp: dân sự, kinh tế, thương mại, đất đai, thừa kế di chúc,Ly hôn... http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/luat-su-tham-gia-to-tung

      3. Luật sư đại diện ngoài tố tụng http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/luat-su-dai-dien-ngoai-to-tung

      4. Dịch vụ pháp lý khác - http://luatbachduong.vn/dich-vu-phap-ly/cac-dich-vu-phap-ly-khac

      hoaiduong82 cảm ơn LuatSuDuongVanMai vì bài viết hữu ích
    • Thanhong123 - 01/01/2019
      Có biên lai thu tiền công ích có đước cấp sổ đỏ không
      Kính chào luật sư! Cho e xin được hỏi vấn đề như sau: Ngày 27/02/1997 ông em có nộp tiền cho xã là 1.500.000đ( nộp tiền hoạt động công ích) và đến ngày 02/03/1997 ông em nộp cho xã thêm 1.000.000đ cũng lý do như trên, vẫn còn giữ biên lai thu tiền. Giờ ông em mất rồi bà thì vẫn còn sống. Giờ gia đình em muốn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có đủ điều kiện được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ạ. Nếu được thì phải tiến hành các bước ra sao ạ. E xin cảm ơn ạ.
    • toanvv - 01/01/2019
      Re: Có biên lai thu tiền công ích có đước cấp sổ đỏ không

      Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ trong đó có Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất. Còn Biên lai thu tiền công ích bạn còn lưu giữ không xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định. Do đó, Biên lai thu tiền công ích này không có giá trị đối với việc xin cấp sổ đỏ.

      Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất không có giấy tờ gì được quy định tại Điều 101 Luật Đất đai 2013, cụ thể như sau:

      “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

      2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất".

      Để giải thích rõ hơn cho điều luật này, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết như sau:

      "1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

      a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

      Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

      b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

      c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;

      d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.

      2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

      a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 2 Điều 143 và Khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức giao đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

      Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

      b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này;

      c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này;

      d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này".

      Như vậy, gia đình bạn cần có giấy xác nhận của chính quyền địa phương về việc đất sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

      Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

      Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

    • Thanhong123 - 03/01/2019
      Xin cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất
      Dạ e cảm ơn luật sư!. Cho e được hỏi thêm là vậy. Ông mất bà còn sống giờ muốn xin cấp (GCNQSDĐ) của toàn bộ mảnh đất đó mang tên bố em thì có được không. Gia đình ông bà có mấy người con khác đang đi làm ăn xa thì có phải về không. Nếu được thì cách làm như thế nào thì đúng với quy định của pháp luật ạ. E xin cảm ơn. Em xin hỏi thêm là nếu trích lục bản đồ địa chính thì sẽ trích lục tên của ông em hay tên của ai để xem ak.
    • toanvv - 03/01/2019
      Re: Xin cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất

      Với vướng mắc trên, chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

      Khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 quy định:

      “1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

      a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

      b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này”.

      Do bạn chưa cung cấp thông tin ông bạn mất năm bao nhiêu, ai đang quản lý thửa đất đó,… nên chúng tôi chưa thể tư vấn chính xác cho bạn. Nếu thời gian từ khi ông bạn mất đến nay chưa vượt quá 30 năm thì gia đình bạn nên mở thừa kế để chia di sản thừa kế (thửa đất). Nếu thời gian đó đã quá 30 năm thì thửa đất này thuộc về người đang quản lý di sản.

      Vì bạn chưa nói rõ thửa đất này là tài sản chung của ông bà bạn hay tài sản riêng của ông bạn nên sẽ có 2 trường hợp xảy ra:

      - Tài sản này lại là tài sản chung của ông bà bạn. Về nguyên tắc, khi ông bạn mất tài sản chung của ông bà sẽ được chia như sau:

      + ½ tài sản thuộc quyền sử dụng của bà bạn;

      + ½ tài sản còn lại là di sản thừa kế được chia thừa kế theo pháp luật và được chia đều cho các đồng thừa kế. Những người hưởng di sản thừa kế theo theo pháp bao gồm: bà bạn và các người con.

      - Tài sản này là tài sản riêng của ông bạn. Khi ông bạn mất, tài sản này sẽ trở thành di sản thừa kế được chia theo pháp luật và chia đều cho các đồng thừa kế.

      Như vậy, nếu bố bạn muốn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của các đồng thừa kế có công chứng, chứng thực, cùng với văn bản từ chối nhận di sản có chữ kí của các đồng thừa kế còn lại (đồng ý cho bố bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dung đất). Nếu không được sự đồng ý của những người còn lại thì việc phân chia di sản thừa kế được chia đều cho những người thừa kế. Theo đó, những người con khác của ông bạn cũng phải về để tiến hành thủ tục phân chia di sản thừa kế.

      Sau khi thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận chia di sản thừa kế, người được hưởng thừa kế đối với tài sản trên có thể thực hiện việc sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại văn phòng đăng ký đất đai. Hồ sơ yêu cầu gồm có:

      +   Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

      +   Văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế (có công chứng, chứng thực), văn bản từ chối nhận di sản thừa kế;

      +   Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của người để lại di sản;

      +   Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế của người chết làm cơ sở miễn nộp nghĩa vụ tài chính (thuế thu nhập cá nhân).

      +   Giấy chứng tử.

      Vì GCNQSDĐ chưa được sang tên cho ai nên khi xin trích lục thì sẽ trích lục tên của ông bạn. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

      Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

      Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

    • hoaiduong82 - 21/01/2019
      Xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
      Kính chào luật sư! Cho tôi xin được hỏi ạ! Bố tôi cách đây khoảng 15 năm có mua một mảnh đất của người ở gần nhà. Khi đó bố tôi chỉ làm giấy viết tay với người bán và có xác nhận của UBND cấp xã. Mảnh đất đó là một phần nằm trong diện tích đất của gia đình đó. Từ đó đến nay bố tôi đã xây nhà trên diện tích đất đó và đã từng làm kinh doanh buôn bán trên diện tích đất đã mua của bên đó. Và sau này cho người ta thuê làm ki ốt buôn bán. Nay gia đình bên bán đất cho bố tôi trở mặt bảo là chưa bán cho bố tôi lúc nào cả. Nay gia đình tôi muốn được công nhận đó là đất của mình và muốn được xin cấp giấy chứng nhận quyền sưd dụng đất cho diện tích đất đã mua của bên nhà đó. Trường hợp thứ nhất là bố tôi vẫn còn giữ cái giấy tay mua bán năm đó. Trường hợp thứ hai là đã mất giấy tay. Vậy mong luật sư tư vấn làm sao để xác định được là đất đó của gia đình tôi ạ. Vì đã trả tiền cho họ năm đó rồi.
    • hoaiduong82 - 21/01/2019
      Mua đất chưa có sổ đỏ
      Kính chào luật sư! Cho em được hỏi là cách đây 15 năm bố em có mua một mảnh đất của nhà hàng xóm và chỉ viết giấy tay mua bán. Vì thời điểm mua là nhà đó chưa có bìa đỏ. Nhưng bây giờ họ đã làm bìa đỏ lúc nào mà nhà em không hay biết. Vâyn nếu giấy viết tay về mua bán có trước thời điểm miếng đất đó được cấp bìa. Thì giấy tay đó có giá trị pháp lý ko ạ. Giấy mua bán viết tay đó có chứng nhận của xã. Và thời điểm đó đến nay nhà em đã xây nhà trên diện tích đã mua đó. Có cả biên lai đóng thuế và tiền xây dựng. Xin luật sư giúp đỡ.
    • NguyenNhatTuan - 21/01/2019
      Re: Mua đất chưa có sổ đỏ

      Chào bạn.

      Theo trinh bày của bạn thì gia đình bạn mua đất bằng giấy viết tay có chứng nhận của UBND xã vì tại thời điểm mua bán đất nay chưa có sổ hồng. Nay chủ đất trước đây đã được cấp sổ hồng th2i phải tiến hành thủ tục sang tên lại cho gia đình em vì đất này đã được bán rồi. Xét về mặt pháp lý thì việc mua bán đấ bằng giấy tay là không được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, đặt trong bôi cảnh 15 năm trước đất chưa có sổ hồng và việc mua bán có chứng nhận của chính quyền địa phương thi có căn cứ để bảo vệ quyên lợi cho gia đình bạn trong trường hợp bên bán phản kèo.

      Thân mến

      Luật sư, Thạc sỹ Luật học NGUYỄN NHẬT TUẤN

      Trưởng văn phòng Luật sư PHÚ VINH - Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh

      Địa chỉ: 332/42i Phan Văn Trị, P.11, Q.Bình Thạnh, TP.HCM

      ĐT liên hệ: 028.35160119; Di động: 0913.623.699

      Website: www.luatsuphuvinh.com;

      Email: nguyennhattuan71@yahoo.com

      tuvan@luatsuphuvinh.com

      Các lĩnh vực, công việc đảm nhận:

      - Tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý trong mọi lĩnh vực pháp luật;

      - Luật sư bào chữa, bảo vệ trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động, thương mại, hôn nhân gia đình, thừa kế, tranh chấp đất đai, tài sản...;

      - Luật sư đại diện theo ủy quyền trong tố tụng, đại diện theo ủy quyền ngoài tố tụng liên quan đến pháp luật;

      - Thực hiện các dịch vụ pháp lý như: dự thảo đơn từ, văn bản, hợp đồng, di chúc, thỏa thuận...

      - Thực hiện các dịch vụ pháp luật khác...

      Chất lượng uy tín, chi phí hợp lý

    • toanvv - 21/01/2019
      Re: Xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

      Trường hợp bạn hỏi chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

      Trường hợp thứ nhất, bố bạn vẫn còn giữ cái giấy tay mua bán năm đó:

      Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình tại phần II, mục 2, tiểu mục 2.3 quy định việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau này 15/10/1993:

      “2.3. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15/10/1993

      a) Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

      Theo quy định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:

      a.1) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;

      a.2) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện;

      a.3) Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

      a.4) Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003;

      a.5) Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật;

      a.6) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

      b) Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đầy đủ các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 này.

      b.1) Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01/7/2004 vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, mà có phát sinh tranh chấp, nếu từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

      b.2) Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tại thời điểm giao kết vi phạm các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng sau đó đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà có phát sinh tranh chấp và từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

      b.3) Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và hủy phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch…”.

      Căn cứ vào quy định trên thì giấy tờ mua bán viết tay của bố bạn được coi là hợp pháp. Tại Khoản 54 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 82 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) quy định thì trường hợp người dân (hộ gia đình, cá nhân) nhận chuyển nhượng đất từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/01/2008 bằng giấy tờ viết tay thì người đang sử dụng đất không phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất.

      Do vậy, bố bạn sẽ thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận lần đầu theo quy định tại Điều 70 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

      Trường hợp thứ hai, bố bạn đã là mất giấy tờ viết tay:

      Khoản 2 Điều 101 Luật đất đai 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

      “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

      Vì bạn không cung cấp thời điểm chính xác mua đất, đồng thời đất bạn đnag xảy ra tranh chấp nên bố bạn không thể tiến hành thủ tục cấp GCNQSDĐ.

      Để đảm bảo quyền lợi của mình, bố bạn nên gửi đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai lên UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp theo hoặc tiến hành Khởi kiện tại Tòa án cấp huyện. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

      Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

      Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

      hoaiduong82 cảm ơn toanvv vì bài viết hữu ích
    • hoaiduong82 - 21/01/2019
      Mua đất chưa có sổ đỏ
      Dạ cho e được hỏi là. Tại sao xã xác nhận giấy mua bán viết tay đó mà vẫn xác nhận đất không tranh chấp ổn định để cho nhà đó cấp được bìa đỏ ạ. Vậy nếu xã sai thì quan trọng nhà em có thể xin cấp sổ hoặc tách sổ đỏ của nhà đó không ạ.vì nhà em có hóa đơn tiền thuế. Với tiền xây dựng mà.
    • hoaiduong82 - 21/01/2019
      Mua đất chưa có sổ đỏ
      Dạ thưa luật sư. Nhà đó giờ đã được cấp bìa rồi ạ. Tại sao xã vẫn xác nhận cho nhà đó đủ điều kiện cấp sổ đỏ ạ. Và nếu họ đã được cấp sổ đỏ vậy giấy tay đó có trước thời gian cấp sổ thì bố em có đòi lại được diện tích đã mua của nhà đó không ạ.
    • toanvv - 21/01/2019
      Re: Mua đất chưa có sổ đỏ

      Với vướng mắc trên, chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

      Điều 100 Luật đất đai 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất:

      1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

      a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

      b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

      c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

      d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

      đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

      e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

      g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

      2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

      3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

      4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật…”

      Dựa vào căn cứ trên thì có thể gia đình họ thuộc một trong các trường hợp được quy đinh tại Điều 100 Luật đất đai 2013 nên được cấp GCNQSDĐ. Các trường hợp quy định tại khoản 1, 3, 4 không cần xét đến việc có tranh chấp hay không có tranh chấp, người sử dụng đất vẫn được cấp GCNQSDĐ, do vậy có thể xã đã làm đúng.

      Căn cứ theo quy định tại điểm b, Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013:

      “Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

      2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

      d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.”

      Như vậy, trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng đối tượng sử dụng đất thì sẽ bị cơ quan quản lý nhà nước về đất đai đã cấp giấy chứng nhận thu hồi giấy chứng nhận đã cấp

      Đối với trường hợp của bạn nêu, nếu là sổ đỏ đã cấp cho thửa đất là cấp không đúng thì bạn có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp huyện đã cấp sổ đỏ cho gia đình bạn sẽ có trách nhiệm thu hồi sổ đỏ cấp. Trường hợp bạn không đồng ý với quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân cấp huyện đã cấp đất yêu cầu giải quyết nếu gia đình bạn có đầy đủ căn cứ cho rằng sổ đỏ đã cấp là không đúng quy định. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

      Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

      Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

    • hoaiduong82 - 21/01/2019
      Mua đất chưa có sổ đỏ
      Dạ kính thưa luật sư! Cái người đứng ra bán đất cho bố em đã chia mảnh đất đó cho 7 người con của ông đó. Và 6 người đã xin cấp và đã được cấp (GCNQSDĐ) còn diện tích đất bố em đã mua thì là ông đó chia cho người con thứ 7 của ông ấy. Thời điểm bố em mua thì là làm giấy tay mua bán với ông bố còn tiền thì thỏa thuận đưa cho người con thứ 7 đó. Khi đó người con thứ 7 của ông đó ở miền nam nên đồng ý bán cho bố em. Giờ có cách nào để chứng minh được và xin cấp (GCNQSDĐ) cho nhà e trên diện tích đất đã mua đó không ạ. Nếu nói xã làm đúng thì tại sao lại thu tiền xây dựng khi bố em xây nhà và ở từ khi đó đến nay không sao cả. Có cả hóa đơn thuế nữa mà luật sư. Ông bố bán đất cho bố em đó giờ chối bỏ cái giấy tay đó ạ.
    • toanvv - 22/01/2019
      Re: Mua đất chưa có sổ đỏ

      Đối với trường hợp của bạn nêu, nếu là sổ đỏ đã cấp cho thửa đất là cấp không đúng thì bạn có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp huyện đã cấp sổ đỏ cho gia đình bạn sẽ có trách nhiệm thu hồi sổ đỏ cấp. Trường hợp bạn không đồng ý với quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân cấp huyện đã cấp đất yêu cầu giải quyết nếu gia đình bạn có đầy đủ căn cứ cho rằng sổ đỏ đã cấp là không đúng quy định. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

      Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

      Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

    • toanvv - 22/01/2019
      Re: Mua đất chưa có sổ đỏ

      Căn cứ theo quy định tại điểm b, Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013:

      “Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

      2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

      d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.”

      Đối với trường hợp của bạn nêu, nếu là sổ đỏ đã cấp cho thửa đất là cấp không đúng thì bạn có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp huyện đã cấp sổ đỏ cho gia đình bạn sẽ có trách nhiệm thu hồi sổ đỏ cấp như điều luật viện dẫn ở trên. Trường hợp bạn không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan quản lý nhà nước thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân cấp huyện đã cấp đất yêu cầu giải quyết nếu gia đình bạn có đầy đủ căn cứ cho rằng sổ đỏ đã cấp là không đúng quy định. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

      Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

      Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

    • hoaiduong82 - 22/01/2019
      Mua đất chưa có sổ đỏ
      Dạ cảm ơn luật sư. Vậy nếu diện tích đất mà nhà em mua chưa có sổ đỏ. Mà những nhà liền kề đã có sổ đỏ rồi. Thì nhà em xin cấp không qua hình thức chuyển nhượng đúng không ạ.
    • toanvv - 25/01/2019
      Re: Mua đất chưa có sổ đỏ

      Trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

      Thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định

      "1. Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008 mà đất đó chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này thì người nhận chuyển quyền sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật Đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được bắt buộc người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

      2. Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước   mà bên nhận chuyển quyền sử dụng đất chỉ có Giấy chứng nhận của bên chuyển quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất theo quy định thì thực hiện theo quy định như sau:

      a) Người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và các giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện có;

      b) Văn phòng đăng ký đất đai thông báo bằng văn bản cho bên chuyển quyền và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển quyền. Trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương ba số liên tiếp (chi phí đăng tin do người đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trả);

      c) Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký đất đai lập hồ sơ để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp không nộp Giấy chứng nhận để làm thủ tục đồng thời cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mới cho bên nhận chuyển quyền."

      Như vậy, tùy vào thời điểm giao dịch của bạn được thực hiện mà áp dụng quy định khác nhau. Nếu như thỏa mãn các quy định trong điều luật trên gia đinh bạn có thể tự làm GCNQSDĐ còn nếu có tranh chấp xảy ra thì phải giải quyết tranh chấp. Khi đó, việc cấp GCNQSDĐ căn cứ theo quyết định của Tòa án. Nếu còn thắc mắc hoặc có các trường hợp vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn, các bạn hãy gọi 1900 6280 liên lạc với luật sư để được tư vấn cụ thể hơn nhé.

      Luật sư: Vũ Văn Toàn - Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội; Điện thoại: 1900 6280

      Website: http://luatsuhanoi.org; http://luatsutuvanluat.org ; Email: luatsuvutoan@gmail.com.

    Hỏi tiếp

    Bản quyền © 2011 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT